Quý Hợi nữ mạng: Mậu Dần có phải tuổi đại kỵ?
Chưa đủ căn cứ để gọi Mậu Dần là tuổi “đại kỵ” của Quý Hợi nữ mạng chỉ bằng một danh sách tuổi. Khi đối chiếu hai năm này, can Mậu–Quý thuộc ngũ hợp, chi Dần–Hợi thuộc lục hợp, còn nạp âm Thành Đầu Thổ và Đại Hải Thủy được đặt trong quan hệ Thổ khắc Thủy. Mỗi nhận định đang nói về một lớp tên khác nhau; không có phép cộng chúng thành kết luận một mối quan hệ sẽ tốt hay xấu.
- Nữ sinh giả định ngày 01/07/1983
- Năm Quý Hợi, nạp âm Đại Hải Thủy. Chữ Quý là can năm, Hợi là chi năm; Thủy ở đây là hành của nạp âm năm.
- Người đối chiếu sinh giả định ngày 01/07/1998
- Năm Mậu Dần, nạp âm Thành Đầu Thổ. Mậu là can năm, Dần là chi năm; Thổ ở đây là hành của nạp âm năm.
Hai ngày dương lịch giữa năm được chọn để tránh nhập nhằng mốc đầu năm; đây không phải dữ liệu của hai người thật. Bản Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư quyển hai, mục nạp âm lục thập hoa giáp, ghi Mậu Dần–Kỷ Mão dưới tên 城頭土 và Nhâm Tuất–Quý Hợi dưới tên 大海水. Vì thế, câu “Thổ khắc Thủy” trong đối chiếu này đang dùng hành nạp âm; không lấy nó thay hành riêng của từng can.

Vì sao nạp âm khắc chưa đủ để gọi là đại kỵ?
“Khắc” là một quan hệ trong hệ phân loại ngũ hành. Bản Tam Mệnh Thông Hội quyển hai có nêu Thổ khắc Thủy; đó là căn cứ để gọi tên quan hệ theo quy ước truyền thống. Câu ấy chưa phải bằng chứng rằng hai người thuộc các năm này sẽ gây hại cho nhau, không thể sống cùng nhau hoặc làm ăn tất yếu thất bại.
Cũng trong quyển hai, mục thiên can tương hợp liệt kê Mậu với Quý thành một cặp. Như vậy, ở lớp can năm của hai ví dụ, nhãn cần ghi là ngũ hợp Mậu–Quý. Nhận ra cặp hợp chưa đồng nghĩa đã xét điều kiện hóa Hỏa trong một hệ luận Bát Tự. Can Quý của năm sinh nữ cũng không tự trở thành Nhật Chủ của người đó; Nhật Chủ lấy từ can ngày, chưa có trong phần đối chiếu chỉ dùng năm này.
Đến lớp địa chi, mục luận chi nguyên lục hợp của cùng bản ghi Dần hợp Hợi. Đây là một cặp lục hợp; không lấy chữ khắc ở lớp nạp âm để xóa cặp chi ấy, và cũng không lấy chữ hợp để tự tuyên bố đã hóa Mộc. Bài phân biệt Can Chi năm, ngày và cung giúp giữ đúng đối tượng đang tra trước khi đọc các nhãn này.

Với riêng Quý Hợi 1983 và Mậu Dần 1998, kết quả đối chiếu cần được giữ nguyên: can ngũ hợp, chi lục hợp, hành nạp âm khắc. Không chấm thành “hai điểm hợp trừ một điểm khắc”, không quy ra phần trăm, cũng không chọn riêng một dòng để gán nhãn đại kỵ hay hoàn hảo. Muốn biết một bảng “tuổi kỵ” đã được lập thế nào, bảng đó phải nêu phép xét và nguồn của chính nó; ba quan hệ vừa tra không tự giải thích được một kết luận có sẵn.
Phần đối chiếu này chỉ cho thấy cách các tên năm được phân loại trong văn bản truyền thống. Nó chưa cung cấp phép đánh giá sự tôn trọng, cách giao tiếp, trách nhiệm hoặc khả năng giải quyết bất đồng của hai người cụ thể. Năm sinh không thay việc tìm hiểu những điều ấy, và bài không dùng các nhãn hợp–khắc để khuyên chọn hay loại một người khỏi quan hệ.

Nữ thuộc năm âm Quý Hợi 1923 và 1983 cùng tra nạp âm Đại Hải Thủy. Tuy nhiên, ví dụ với người sinh năm 1998 ở trên chỉ đối chiếu cặp năm 1983–1998; không gán cùng hoàn cảnh đời sống cho mọi thế hệ Quý Hợi. Nhánh Nữ của bài cũng không làm thay đổi tên cặp can Mậu–Quý hoặc cặp chi Dần–Hợi.
Bộ chọn bài theo ngày sinh mở nhóm Quý Hợi nữ cho hai ngày giả định 01/07/1923 và 01/07/1983; bộ chọn không trả điểm tương hợp cho hai người. Hướng dẫn đọc Tử Vi trọn đời giải thích phạm vi của bài theo tuổi và dữ liệu cần có khi chuyển sang đọc một lá số.







