Tháng âm đang tra có thể bắt đầu giữa tháng dương
Mỗi dòng kết quả là một tháng âm với ngày đầu, ngày cuối dương lịch và số ngày. Năm xem là năm âm đã chọn, nên tháng Chạp có thể kéo sang năm dương tiếp theo. Một tháng âm không trùng mặc định với ngày 1 đến ngày cuối của tháng dương cùng số.
Chẳng hạn tháng Giêng Bính Ngọ bắt đầu 17/02/2026 và kết thúc 18/03/2026 theo bảng UTC+7; đó không phải tháng 1/2026. Mốc Tết có thể kiểm chéo ở bảng chuyển đổi năm 2026 của Hong Kong Observatory. Công cụ dùng múi giờ Việt Nam UTC+7; không mặc định mọi ngày của lịch khu vực khác đều trùng.

Vì sao năm 2025 có 13 dòng tháng?
Vì năm Ất Tỵ có tháng 6 thường và tháng 6 nhuận, hai khoảng ngày nối tiếp riêng. Tháng 6 thường là 25/06–24/07/2025, tháng 6 nhuận là 25/07–22/08/2025; không gộp cả hai thành một tháng gần 60 ngày. Một năm âm nhuận vẫn giữ các số tháng từ 1 đến 12, có thêm một tháng lặp số.
Lịch chuyển đổi năm 2025 của HKO thể hiện hai lần tháng Sáu; các mốc nêu ở đây cũng được kiểm theo UTC+7. Trong bảng, chữ “nhuận” là một phần của tên dòng và được giữ cả khi lọc chi tiết. Hai khoảng không được hoán đổi chỉ vì cùng số 6.
Khi đã có một ngày dương cụ thể, dùng đổi ngày âm dương để xác định nó nằm ở tháng thường hay nhuận. Không lấy ngày đầu tháng của năm trước rồi cộng cố định 30 ngày cho năm đang tra.
Tên Can Chi ở bảng có phải nguyệt trụ Bát Tự theo tiết khí?
Không. Trang đếm tên tháng theo số tháng âm: Giêng là Dần, Hai là Mão…; Can tháng bắt đầu theo Can năm rồi tiến từng tháng. Đây là bảng đối chiếu theo tháng âm, không phải phép tính nguyệt trụ đổi ở thời điểm giao tiết.
Mục Luận độn nguyệt thời trong Tam Mệnh Thông Hội, quyển II nêu cách khởi tháng từ Can năm: Giáp/Kỷ bắt đầu Bính Dần, Ất/Canh bắt đầu Mậu Dần, Bính/Tân bắt đầu Canh Dần, Đinh/Nhâm bắt đầu Nhâm Dần, Mậu/Quý bắt đầu Giáp Dần. Bảng ở đây dùng phép đếm tên ấy với ranh tháng âm đã ghi rõ.
Với tháng nhuận, trang giữ cùng tên Can Chi với tháng mang cùng số để tiện đối chiếu lịch; đó không phải khẳng định mọi trường phái an nguyệt hạn đều xử lý tháng nhuận giống nhau. Nếu một bản Bát Tự dùng tiết khí, hãy đọc theo quy ước của bản ấy; không ép hai bảng trùng tên bằng cách đổi ngày sinh.
Năm sinh và tháng cùng nhóm tam hợp đã đủ ba chi chưa?
Chưa. Hai địa chi cùng nằm trong một nhóm chỉ cho biết chúng thuộc nhóm ấy, chưa cung cấp chi thứ ba hoặc toàn bộ điều kiện của một cách cục. Hai chi giống nhau cũng không trở thành một bộ tam hợp.
Ví dụ tuổi Ngọ được đặt cạnh tháng Dần: hai chi thuộc nhóm Dần–Ngọ–Tuất, nhưng phép so này chưa xét Tuất. Mục Luận chi nguyên tam hợp phân biệt đủ ba chữ với trường hợp thiếu một chữ. Trang chỉ ghi quan hệ đang có, không đổi nhãn thành “quý nhân”, tỷ lệ thành công hoặc lời khuyên ký hợp đồng.
Tương tự, dòng “lục hợp” hay “lục xung” là tên một cặp địa chi trong hệ thống truyền thống. Dòng ngũ hành ghi rõ chiều sinh hoặc khắc, không chấm điểm tốt xấu. Không cộng ba loại nhãn thành phần trăm sức khỏe, thu nhập hoặc tình cảm.
Ngày sinh và nam/nữ ảnh hưởng phần nào của bảng?
Ngày sinh dương được đổi theo UTC+7 để lấy năm âm, Can Chi và nạp âm năm sinh; bảng tháng phụ thuộc năm xem. Hai người cùng năm âm có thể có cùng phần so Can Chi trên trang này. Nam/nữ được giữ để nhận diện bản tra hiện có, không làm đổi lịch tháng hoặc các cặp so này.
Biểu mẫu không có giờ sinh nên chưa lập được mệnh bàn hay an sao từng tháng. Vì thế kết quả không dự báo bệnh, mức thu nhập, việc đổi nghề hoặc ngày gặp người yêu. Nếu cần bản riêng theo đủ giờ sinh, mở lập lá số Tử Vi; nếu muốn biết mốc tuổi và cung hạn, dùng Đại Hạn – Tiểu Hạn.
Kho bài hằng tháng của 12 cung hoàng đạo dùng tháng dương của bài và tên cung Bạch Dương, Kim Ngưu…; đó là một nơi đọc khác với bản tháng âm theo tuổi ở đây. Để ghi lễ hoặc ngày riêng vào lịch, xem các bài đọc tiếp, rồi xác nhận ngày và việc thực tế cần làm.
Giải Mã Tử Vi · Nội dung cập nhật ngày 16/10/2026. Các khoảng lịch và tên Can Chi được trình bày riêng với quan niệm diễn giải; không dùng điểm số để xác nhận kết quả đời sống.







