Can Chi trong lá số: tra tên, phân biệt năm, ngày và cung
Thiên can có mười tên, Địa chi có mười hai tên; một cặp Can Chi gồm can đứng trước và chi đứng sau, như Bính Ngọ. Khi đọc lá số, cần biết cặp đó đang ghi năm sinh, ngày sinh, một vận hay một vị trí cung. Can năm không tự trở thành can ngày; chữ Tý ở ô cung cũng không có nghĩa người đó sinh năm Tý.
Mười can và mười hai chi đọc theo thứ tự nào?
Mười Thiên can
- Giáp
- Ất
- Bính
- Đinh
- Mậu
- Kỷ
- Canh
- Tân
- Nhâm
- Quý
Mười hai Địa chi
- Tý
- Sửu
- Dần
- Mão
- Thìn
- Tỵ
- Ngọ
- Mùi
- Thân
- Dậu
- Tuất
- Hợi
Quý là tên can; Tý là tên chi. Mậu và Ngọ cũng thuộc hai dãy khác nhau. Khi đọc “Bính Ngọ”, tách Bính ở dãy can và Ngọ ở dãy chi trước khi tra quan hệ khác. Cách gọi Tí hoặc Tị trong một tài liệu có thể tương ứng Tý hoặc Tỵ ở đây; đối chiếu cả vị trí trong dãy, không đoán chỉ theo hình chữ.
Bảng Heavenly Stems and Earthly Branches của Đài Thiên văn Hong Kong trình bày hai dãy và chu kỳ ghép Can Chi. Danh sách trên dùng tên Hán–Việt để đọc nhãn thường gặp trên website; bảng nguồn dùng phiên âm như Jia, Yi, Zi, Chou. Không ghép can với con vật chỉ vì cùng một số thứ tự.

Vật gỗ, nước, lửa và đá trong cảnh giúp gợi bối cảnh Ngũ hành; không dùng màu hoặc vật trong ảnh để xác định can ngày, năm sinh hay số lượng hành của một người. Muốn biết một nhãn thuộc dãy nào, tra tên trong hai danh sách văn bản.
Vì sao có sáu mươi cặp mà không phải mười nhân mười hai?
Vì hai dãy cùng tiến một vị trí qua mỗi lượt, không ghép tự do mọi can với mọi chi. Khởi đầu Giáp Tý, lượt kế là Ất Sửu rồi Bính Dần. Sau mười lượt dãy can quay lại Giáp, còn dãy chi đã đến Tuất; phải sau sáu mươi lượt cả hai mới cùng trở lại điểm đầu.
Đầu chu kỳ: Giáp Tý → Ất Sửu → Bính Dần … qua Quý Dậu là Giáp Tuất → Ất Hợi.
Về số học, sáu mươi là bội chung nhỏ nhất của mười và mười hai. Với cách đánh số từ một trong hai danh sách trên, các cặp của chu kỳ đi cùng vị trí lẻ–lẻ hoặc chẵn–chẵn. “Giáp Sửu” có thể trông như hai tên quen thuộc nhưng không thuộc chu kỳ ghép đang nói đến. Đây là cách kiểm tên cặp, không phải phép chấm hợp tính cách.
Chu kỳ Can Chi được dùng cho nhiều đơn vị thời gian. Cùng thấy Giáp Tý không cho biết đó là một năm hay một ngày; phải đọc nhãn và dữ kiện đi kèm. Cũng không lấy tên can của một năm rồi tiến theo tháng dương để tự tạo đủ bốn trụ. Thông tin tháng, ngày, giờ có quy tắc lịch và mốc riêng.

Các đường sáng trong ảnh là cách diễn đạt thời gian bằng hình; không phải đường đi thiên thể, mốc đổi vận hoặc số tuổi đã được tính. Khi người luận ghi một vận Can Chi, cần biết vận bắt đầu từ dữ kiện nào và phương pháp nào, thay vì lấy vị trí sáng trên ảnh làm kết quả.
Cùng một chữ can hoặc chi, vì sao không được dùng lẫn vai trò?
Vì nhãn cho biết chữ ấy thuộc phần nào của phép đọc: năm, ngày, cung hoặc lớp thời gian đang xét. Hãy ghi cả nhãn thay vì chép một chữ rời. Hai chữ giống nhau ở hai nơi không làm hai nơi đó có cùng chức năng.
- Can Chi năm sinh
- Đọc ở phần dữ kiện năm của bản đang dùng, sau khi xác định mốc đổi năm. Nó chỉ rõ cặp ghi năm; chưa đủ để tạo toàn bộ lá số hoặc suy ra can ngày.
- Can ngày trong Bát Tự
- Đọc ở trụ ngày. Nhật chủ lấy can ngày làm mốc xét quan hệ; không lấy can của con giáp năm sinh thay vào. Ví dụ giả định bản ghi năm Bính Ngọ, ngày Giáp Tý thì can năm là Bính, can ngày là Giáp.
- Địa chi và can ghi trên ô cung Tử Vi
- Đọc chúng như nhãn vị trí của cung trên lá số ấy. Cung Mệnh ở Tý không tự đổi năm sinh thành năm Tý. Khi một phương pháp dùng can cung, cần chỉ rõ cung nào và quy tắc đang áp dụng.
- Can Chi vận hoặc thời gian lưu
- Ghi rõ đại vận, lưu niên hay lớp khác, cùng mốc bắt đầu và dữ kiện của bản. Không dùng can của năm đang xem để thay toàn bộ thông tin sinh ban đầu.
Mục luận lấy ngày làm chủ trong bản chép Uyên Hải Tử Bình trên Wikisource nêu việc lấy can ngày làm mốc. Đây là tư liệu thuật ngữ; bản chép trực tuyến không được coi là chứng minh các lời dự đoán trong sách đúng với đời sống. Bài Thập Thần có ví dụ đổi Nhật chủ thì tên quan hệ thay đổi.
Với Tử Vi, tài liệu Tứ Hóa của tác giả iztro phân biệt hóa theo các lớp thời gian và hóa từ can cung. Chỉ biết một chữ can chưa đủ để hỏi “Hóa Lộc ở đâu”: còn phải biết đang dùng lớp nào, bảng Tứ Hóa nào và sao nằm ở vị trí nào. Không dùng câu trả lời về một lớp để xác nhận lớp khác.

Can Chi có phải là Ngũ Hành Cục hoặc nạp âm không?
Không phải cùng một loại nhãn. Can Chi là cặp tên; nạp âm, hành của can, hành của chi, nhóm tam hợp và Ngũ Hành Cục có cách xác định và vai trò riêng. Thấy một từ “Thủy” trong phần khác của lá số không cho phép thay tên can hoặc bỏ một trụ.
Bài tam hợp cung và Ngũ Hành Cục giải thích một chỗ dễ nhầm giữa hai nhóm thông tin này. Trước khi đếm “thiếu hành” hoặc đi tìm vật bổ mệnh, hãy hỏi dữ liệu đang đếm là can lộ, can tàng, sao hay một tên Cục. Đếm những đối tượng khác nhau rồi cộng thành một tỷ lệ năng lượng sẽ che mất điều đang thực sự kiểm tra.
Sinh đầu năm dương lịch, vì sao hai nguồn có thể ghi Can Chi năm khác nhau?
Cần kiểm mốc đổi năm: đầu năm âm lịch và Lập Xuân là hai mốc khác nhau. Ngoài ngày sinh, giữ lại giờ, nơi sinh, múi giờ, loại lịch đã nhập và quy ước của tài liệu hoặc công cụ. Không dùng riêng bốn chữ số của năm dương lịch để xử lý mọi ngày gần ranh giới.
Trong bài “What year is it today?” của HUI Tai-wai, HKO, tháng 4/2018, tác giả phân biệt cách lịch HKO đổi Can Chi vào đầu năm âm lịch với cách một số người làm thuật số dùng Lập Xuân. Như vậy, hai kết quả khác nhau cần được hỏi về quy ước trước, không vội kết luận nguồn nào tính sai chỉ bằng tên năm.
Ví dụ theo lịch HKO tháng 2/2026: Lập Xuân ở ngày 4/2, đầu năm âm lịch ở ngày 17/2. Ngày 7/2 nằm giữa hai mốc. Theo mốc đầu năm âm lịch, ngày này còn thuộc năm Ất Tỵ; một cách đổi năm tại Lập Xuân đã qua ranh giới ấy. Đây là ví dụ đối chiếu mốc của lịch Hong Kong, không phải lá số sinh ngày 7/2 đã được lập cho mọi địa điểm.
Nếu đang xem một lá số cụ thể, ghi đúng điều cần hỏi: “Bản này dùng mốc nào để đổi năm? Giờ và múi giờ nào đã được đưa vào?” Khi đổi công cụ, nhập lại cùng dữ kiện và đọc quy ước của cả hai. Không tự đổi giờ sinh hoặc đổi ngày cho ra tên năm mình muốn; các nhãn tiếp theo có thể lệch từ lựa chọn ban đầu ấy.
Can Chi giúp tổ chức và đọc hệ ký hiệu. Việc nhận đúng tên năm, ngày hoặc cung vẫn không xác nhận một người sẽ làm nghề gì, kiếm được bao nhiêu tiền hay mắc bệnh nào. Phần có thể kiểm trong bài là thứ tự tên, cách ghép chu kỳ, nhãn đang dùng và mốc lịch được công bố.
Giải Mã Tử Vi đối chiếu dãy tên và chu kỳ từ HKO, mốc lịch qua bài giải thích và tờ lịch tháng 2/2026 của cơ quan này. Tư liệu Tử Bình và iztro chỉ được dùng để phân biệt vai trò thuật ngữ trong hai hệ đọc. Ví dụ năm Bính Ngọ, ngày Giáp Tý là bản ghi giả định, không có dữ kiện để lập lá số cá nhân.
Cập nhật:






