Sinh cùng năm dương chưa chắc cùng tuổi âm
Ngày sinh ở trước và sau Tết có thể thuộc hai năm Can Chi khác nhau. Công cụ đổi từng ngày dương sang âm lịch UTC+7 rồi lấy năm âm để tra cả nạp âm lẫn Cung Phi; không lấy ngay năm dương trên giấy tờ.
Ví dụ 14/02/1991 thuộc năm Canh Ngọ, còn 15/02/1991 là mùng 1 Tết Tân Mùi theo cách đổi lịch đang dùng. Vì thế hai người cùng ghi năm 1991 chưa chắc nhận cùng dòng đối chiếu. Nếu chỉ biết năm, đừng tự chọn 01/01 rồi coi đó là kết quả của đúng ngày sinh.
Quy tắc ở đây đổi năm tại Tết, không đổi tại Lập Xuân. Với ngày sinh từ năm 1975 trở về trước, kết quả là tính hồi chiếu theo âm lịch hiện đại UTC+7, chưa phục dựng lịch pháp định từng vùng hoặc từng thời kỳ. Tài liệu lịch Việt Nam của Hồ Ngọc Đức giải thích vì sao lịch lịch sử và múi giờ có thể khác nhau.

Bốn dòng đối chiếu nói về bốn loại nhãn khác nhau
Nạp âm là tên trong chu kỳ 60 năm; Thiên Can và Địa Chi là hai phần của tên Can Chi; Cung Phi là một số tính theo năm và vai nam/nữ. Hành của nạp âm có thể khác hành của cung. Không gộp chúng thành một “mệnh” duy nhất và không suy ra tính cách từ một hành.
Đài thiên văn Hong Kong mô tả chu kỳ phối 10 Can với 12 Chi thành 60 tổ hợp. Quyển một của Tam Mệnh Thông Hội chứa các tên nạp âm truyền thống. Hai nguồn này giúp đối chiếu tên gọi, không chứng minh một cặp tuổi sẽ có đời sống hôn nhân như thế nào.

Điểm được cộng thế nào, vì sao thang hiện tại là 8?
Thang hiện tại cộng bốn dòng, mỗi dòng tối đa 2 điểm, nên tối đa là 8. Các trọng số dưới đây là quy ước sản phẩm, không phải thang đã được nghiên cứu để đo tình yêu. Giữ riêng từng dòng giúp thấy nhãn nào tạo ra tổng thay vì chỉ nhìn con số lớn.
| Tiêu chí | Nhóm được xét theo thứ tự | Điểm |
|---|---|---|
| Nạp âm | Hành nam sinh hành nữ; hành nữ sinh hành nam; cùng hành; có quan hệ khắc; còn lại | 2; 1,9; 1,6; 1; 0,5 |
| Thiên Can | Ngũ Hợp; cặp trừ điểm trong danh sách; còn lại | 2; 0,6; 1,4 |
| Địa Chi | Lục Hợp; khác Chi trong cùng Tam Hợp; Lục Xung; Lục Hại; cùng Chi; còn lại | 2; 1,9; 0,4; 0,5; 1,5; 1,4 |
| Cung Phi | Phục Vị 1.6; Tuyệt Mệnh 0.3; Thiên Y 1.9; Sinh Khí 2; Lục Sát 0.5; Họa Hại 0.7; Ngũ Quỷ 0.4; Diên Niên 1.9 | Từ 0,3 đến 2 theo nhãn của bảng bên dưới |
Vòng sinh đang dùng: Kim → Thủy → Mộc → Hỏa → Thổ → Kim. Vòng khắc: Kim → Mộc → Thổ → Thủy → Hỏa → Kim. Hai chiều sinh được cho 2 và 1,9 để giữ quy ước điểm của sản phẩm; sự chênh 0,1 không thể hiện ai có trách nhiệm hơn hoặc ai “hy sinh” trong mối quan hệ.
Can Ngũ Hợp: Giáp–Kỷ; Ất–Canh; Bính–Tân; Đinh–Nhâm; Mậu–Quý. Danh sách Can trừ điểm: Giáp–Mậu; Mậu–Nhâm; Nhâm–Bính; Bính–Canh; Canh–Giáp; Ất–Kỷ; Kỷ–Quý; Quý–Đinh; Đinh–Tân; Tân–Ất. Danh sách trừ điểm là nhánh tra đang dùng trong công cụ, không gọi mọi cặp này là một nhóm xung chuẩn duy nhất.
Chi Lục Hợp: Sửu–Tý; Dần–Hợi; Mão–Tuất; Dậu–Thìn; Thân–Tỵ; Mùi–Ngọ. Tam Hợp: Thân–Tý–Thìn; Dần–Ngọ–Tuất; Tỵ–Dậu–Sửu; Hợi–Mão–Mùi; hai Chi phải khác nhau mới dùng điểm Tam Hợp. Lục Xung: Ngọ–Tý; Mùi–Sửu; Dần–Thân; Dậu–Mão; Thìn–Tuất; Hợi–Tỵ. Lục Hại: Mùi–Tý; Ngọ–Sửu; Dần–Tỵ; Mão–Thìn; Hợi–Thân; Dậu–Tuất. Công cụ dừng ở nhóm đầu tiên phù hợp, không cộng nhiều điểm cho cùng một dòng Chi.
Số cung dùng năm âm, rút gọn toàn bộ chữ số
Cộng toàn bộ chữ số năm âm, rút về 1–9. Vai nam lấy 11 trừ số đó; vai nữ lấy 4 cộng số đó, rồi lại rút về 1–9. Kết quả 5 đổi thành 2 cho vai nam hoặc 8 cho vai nữ. Các số còn lại ứng với 1 Khảm, 2 Khôn, 3 Chấn, 4 Tốn, 6 Càn, 7 Đoài, 8 Cấn, 9 Ly. Đây là quy ước năm âm của trang; không trộn kết quả với một công cụ dùng năm dương hoặc mốc Lập Xuân.
Ví dụ năm âm 1991: 1 + 9 + 9 + 1 = 20 → 2. Vai nam: 11 − 2 = 9, cung Ly; vai nữ: 4 + 2 = 6, cung Càn. Bảng dưới đây tra cặp cung đối xứng; nhãn có tên nặng vẫn chỉ là nhãn truyền thống, không dự báo bệnh, tử vong hay ly hôn.
| Cung | Khảm | Khôn | Chấn | Tốn | Càn | Đoài | Cấn | Ly |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Khảm | Phục Vị | Tuyệt Mệnh | Thiên Y | Sinh Khí | Lục Sát | Họa Hại | Ngũ Quỷ | Diên Niên |
| Khôn | Tuyệt Mệnh | Phục Vị | Họa Hại | Ngũ Quỷ | Diên Niên | Thiên Y | Sinh Khí | Lục Sát |
| Chấn | Thiên Y | Họa Hại | Phục Vị | Diên Niên | Ngũ Quỷ | Tuyệt Mệnh | Lục Sát | Sinh Khí |
| Tốn | Sinh Khí | Ngũ Quỷ | Diên Niên | Phục Vị | Họa Hại | Lục Sát | Tuyệt Mệnh | Thiên Y |
| Càn | Lục Sát | Diên Niên | Ngũ Quỷ | Họa Hại | Phục Vị | Sinh Khí | Thiên Y | Tuyệt Mệnh |
| Đoài | Họa Hại | Thiên Y | Tuyệt Mệnh | Lục Sát | Sinh Khí | Phục Vị | Diên Niên | Ngũ Quỷ |
| Cấn | Ngũ Quỷ | Sinh Khí | Lục Sát | Tuyệt Mệnh | Thiên Y | Diên Niên | Phục Vị | Họa Hại |
| Ly | Diên Niên | Lục Sát | Sinh Khí | Thiên Y | Tuyệt Mệnh | Ngũ Quỷ | Họa Hại | Phục Vị |
Vì sao trang không tự điền thơ Cao Ly hoặc hậu vận?
Chưa có bản nguồn và bảng đầy đủ được đối chiếu cho từng cặp Can nam – Chi nữ nên công cụ không đưa Cao Ly vào phép cộng, không tự thay cặp thiếu bằng lời “bình hòa” và không tạo câu thơ rồi gán cho sách cổ. Đây cũng là lý do bỏ thang 10 cũ để dùng bốn dòng minh bạch trên thang 8.
Một bài tra theo năm không có giờ sinh và vị trí sinh của hai người, cũng không biết việc họ trải qua. Bởi vậy phần kết quả không đoán năm cưới, số con, tuổi thọ, ngoại tình hoặc người ấy đang nghĩ gì. Tên gọi nhập chỉ làm lời đọc dễ theo dõi; bối cảnh đang yêu hay đã kết hôn chỉ chọn câu hỏi trao đổi.

Có nhãn khắc: trao đổi chuyện thật nào trước?
Hỏi về việc đang vướng trong quan hệ, thay vì dùng nhãn khắc để tìm một nguyên nhân có sẵn. Chẳng hạn hai người đang chuẩn bị cưới có thể đối chiếu ngân sách, nơi ở, phân công việc và mong đợi từ gia đình; người đang tìm hiểu cần làm rõ nhịp liên lạc và điều mỗi bên đang mong muốn.
Không có quy tắc nào trong phép tính yêu cầu mua vật phẩm, bùa yêu hoặc trả tiền “giải” một cặp cung. Một điểm cao cũng không thay thế sự đồng thuận và cách đối xử thực tế. Nếu câu hỏi của bạn là về các con số từ họ tên, mở công cụ thần số học cặp đôi; nếu muốn đọc biểu tượng theo câu hỏi, xem Tarot tình yêu hai người. Hai cách đó dùng đầu vào khác, không dùng để xác nhận điểm Can Chi này.









