Cùng sinh năm 1998, vì sao lại có tuổi mụ khác nhau?
Vì ngày trước Tết 1998 còn thuộc năm âm 1997. Trang lấy năm âm từ đủ ngày sinh dương lịch ở múi giờ UTC+7, rồi tính tuổi mụ = năm dự kiến âm − năm sinh âm + 1. Chỉ lấy số 1998 trên giấy tờ có thể làm lệch một tuổi và đổi số dư.
- Sinh ngày 01/01/1998, tra năm âm 2026
- Ngày âm 04/12/1997, năm Đinh Sửu. Tuổi mụ = 2026 − 1997 + 1 = 30; 30 = 9 × 3 + 3, dư 3.
- Sinh ngày 28/01/1998, tra cùng năm âm 2026
- Mùng 1 Tết Mậu Dần 1998. Tuổi mụ = 2026 − 1998 + 1 = 29; 29 = 9 × 3 + 2, dư 2.
Bảng lịch 1998 của Đài thiên văn Hong Kong cũng ghi 28/01 bắt đầu tháng Giêng; các ngày âm trong hai phép tính trên được đổi theo UTC+7 của trang. Đây là ví dụ kiểm cách lấy năm, không phải hai câu chuyện hôn nhân đã được theo dõi.
Quy ước đổi năm ở đây dùng Tết, không dùng Lập Xuân. Với ngày sinh cũ, phép đổi là tính hồi chiếu theo UTC+7 hiện đại, không phục dựng mọi lịch lịch sử. Có thể mở đổi ngày âm dương để đối chiếu các năm nằm trong danh sách của công cụ đó.

Dư 1, 3, 6, 8 có nói năm đó không thể cưới?
Không. Trong quy ước được công bố trên trang, bốn số dư được gắn các tên Kim Lâu Thân, Kim Lâu Thê, Kim Lâu Tử và Kim Lâu Lục Súc. Phép chia tạo một nhãn tham khảo; nó không xác nhận bệnh tật, khó sinh, thiệt hại tiền bạc hay một cuộc hôn nhân sẽ thất bại.
- Dư 1: tên nhãn Kim Lâu Thân.
- Dư 3: tên nhãn Kim Lâu Thê.
- Dư 6: tên nhãn Kim Lâu Tử.
- Dư 8: tên nhãn Kim Lâu Lục Súc.
- Dư 0, 2, 4, 5 hoặc 7: ngoài bốn nhóm trên; không có nghĩa là năm đó bảo đảm thuận lợi.
Công cụ không đổi nhãn thành điểm hạnh phúc, không dùng tên “Thê” để suy ra điều sẽ xảy ra với chú rể, và không gọi năm ngoài nhóm là “đại cát”. Tuổi mụ của phép tra cũng khác tuổi đủ tính theo ngày sinh; trang này không kiểm điều kiện đăng ký kết hôn.
Một bên nói được cưới, bên kia nói phải kiêng: kiểm điều gì?
Kiểm năm sinh âm, loại tuổi và quy tắc ngoại lệ của mỗi bên trước khi so kết luận. Hai người cùng nói “chia 9” vẫn có thể lấy một bên tuổi dương, một bên tuổi mụ, hoặc áp danh sách ngoại lệ khác nhau.
Trang dùng một phép chia với bốn nhãn đã liệt kê, không tự miễn trừ tám tuổi hay tự xóa nhãn sau Đông Chí. Chưa có bản nguồn và điều kiện đầy đủ được đối chiếu để áp các ngoại lệ đó cho mọi ngày sinh. Nếu gia đình đang dùng một quy ước riêng, ghi rõ quy ước và phép tính để biết điều gì khác; đừng chỉ đổi sang một trang cho ra kết quả dễ nghe.
Ví dụ giả định: hai nhà tra người sinh 01/01/1998 cho năm âm 2026. Một nhà lấy ngay năm dương 1998 nên được tuổi 29, dư 2; nhà còn lại đổi sang năm âm 1997 nên được tuổi 30, dư 3. Sự khác biệt nằm ở đầu vào, không cho thấy ai đã đoán đúng đời sống của cặp đôi. Hai bên có thể đối chiếu lịch sinh rồi bàn việc tôn trọng phong tục đến đâu.

“Cưới năm 2026” đã đủ để chọn năm tra chưa?
Chưa đủ nếu ngày lễ ở đầu năm dương lịch. Ô năm của trang là năm âm của ngày dự kiến: ngày trước Tết phải chọn năm âm trước đó. Form không có ngày cưới nên không tự biết lễ rơi trước hay sau Tết; cần đổi ngày dự kiến và xác nhận năm âm trước khi tra.
Nếu đang xem lại một năm ngoài danh sách hiện tại, công cụ chưa hỗ trợ tra năm đó. Đừng đổi sang năm khác chỉ để gửi form. Khi đã có tháng dự kiến, công cụ xem ngày kết hôn có trường tháng/năm và thông tin hai người để tiếp tục tra; nhãn lịch của nó vẫn cần đối chiếu với cuộc hẹn thực.
Trước khi đặt cọc, hai người cần trả lời những việc mà phép chia không có dữ liệu: ai đã xác nhận lịch, địa điểm còn chỗ vào ngày nào, người ở xa có đi được không, và khoản nào đã cam kết. Nếu muốn đọc toàn bộ chủ đề lễ vật và nghi thức, mở cẩm nang cưới hỏi; phần này chỉ làm rõ năm và cách đọc phép tra.

Cập nhật phương pháp và nội dung: 03/10/2026. Phần cơ bản và cách tính đọc miễn phí; phần đối chiếu năm năm liên tiếp có phí 19.000đ cho dữ liệu hiện tại.










