Tử vi tài lộc: tra Tài Bạch, nhận diện tên lộc và hao

Tìm ô Tài Bạch, chính tinh và các tên Lộc Tồn, Hóa Lộc, Đại Hao, Tiểu Hao được nguồn ghi tại ô này. Phần cơ bản miễn phí; đối chiếu thêm dùng quyền báo cáo hiện có. Công cụ không tính số dư, thu nhập hoặc lợi nhuận.

Ngày giờ để tra Tài Bạch

Chọn giờ đã biết; không dùng 0 giờ thay cho giờ chưa rõ. Nguồn dùng mốc đầu giờ và an ngày âm kế tiếp tại 23 giờ; ngày dương gửi đi giữ nguyên.

Một tên sao chưa phải một khoản tiền

Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc trong danh sách là tên nguồn ghi, không phải tiền đã nhận. Đại Hao hoặc Tiểu Hao cũng chưa xác nhận có khoản mất tiền. Giữ nguyên tên, cung và năm của bản tra trước khi hỏi tài liệu đang diễn giải điều gì.

Sổ mở có các ô và ký hiệu sao cạnh tiền xu, bàn tính, lư hương và đèn trên bàn gỗ
Giữ phần ghi chép cung sao riêng với chứng từ và số tiền thực tế.

Nếu cùng thấy tên lộc và hao trong Tài Bạch thì có trừ nhau không?

Không có phép cộng trừ tiền từ những tên này trong công cụ. Trang giữ từng tên để bạn đối chiếu bản nguồn, không gán “một lộc bằng hai hao” hoặc cho ra phần trăm tài lộc còn lại. Tên có tiền tố L. vẫn giữ tiền tố ấy và đi cùng năm xem.

Lộc Tồn và Hóa Lộc
Hai tên khác nhau. Thấy một tên không tự suy rằng tên còn lại cũng có mặt; phải đọc đúng danh sách tại ô đang tra.
Đại Hao và Tiểu Hao
Giữ riêng từng tên, không chuyển chữ “đại” hay “tiểu” thành số tiền lớn hoặc nhỏ. Danh sách không biết hóa đơn nào của bạn đã đến hạn.
Có tên ở cung chiếu
Giữ tên cung chiếu. Ví dụ Hóa Lộc ghi tại Quan Lộc không được đổi thành “Hóa Lộc tọa Tài” chỉ vì hai cung có liên hệ.

Ví dụ đọc nhãn giả định: Tài Bạch ghi Tiểu Hao, Quan Lộc ghi Hóa Lộc. Bản ghi đúng là hai tên ở hai cung; chưa có dữ kiện về tiền thưởng, chi phí hay khả năng giữ tiền. Nếu cần hiểu quan hệ các ô trước, xem vị trí và cung liên hệ của Tài Bạch.

Không thấy bốn tên đang tìm có phải là ô Tài không có sao?

Không. Dòng nhận diện chỉ tìm đúng bốn tên Lộc Tồn, Hóa Lộc, Đại Hao, Tiểu Hao, kể cả dạng có tiền tố lưu của nguồn. Nó không liệt kê mọi sao hoặc kết luận bản này “không có tài lộc”. Chính tinh và các nhóm sao khác được giữ ở phần riêng.

Khi chính tinh tọa Tài trống, kết quả nói nguồn không ghi chính tinh tọa cung. Sao ở Phúc Đức vẫn thuộc đối cung, không tự nhập vào ô Tài. Dấu Thân cũng chỉ được ghi khi nguồn đặt dấu ở chính ô Tài Bạch; tên địa chi Thân chưa đủ để gọi Thân cư Tài.

Thử tìm cùng nguyên văn trên bản lá số đầy đủ với đúng ngày, giờ và năm đang dùng. Nếu nguồn không tải được hoặc không khớp đầu vào, trang báo lỗi để thử lại, không tự điền một danh sách hoặc điểm giàu nghèo thay thế.

Phần tra này có thể đối chiếu điều gì, và còn để mở điều gì?

Có thể đối chiếu tên cung, địa chi, dấu Thân, tên và nhóm sao đọc từ cùng mệnh bàn. Chưa thể từ đó xác nhận thu nhập, số dư, mức chịu rủi ro, tài sản nên mua hoặc thời điểm có lợi nhuận. Thay năm xem cũng không tạo một dự toán thu chi.

Quan hệ Mệnh–Quan–Tài và đối cung Phúc Đức được xác định theo vị trí trong mười hai cung. Thứ tự cung có thể kiểm tại Toàn Thư quyển II, mục An thân mệnh; tên và cách an Lộc Tồn, Hóa Lộc là những mục riêng trong cùng quyển. Nguồn cổ giải thích hệ thống truyền thống, không chứng minh một danh sách sao dự báo được khoản tiền.

Trang dùng ngày dương và giờ đã biết, kiểm bản nguồn Lịch Ngày Tốt trước khi đọc ô Tài. Nguồn hiện an ngày âm kế tiếp khi chọn 23 giờ; giữ nguyên ngày dương gửi đi để không dịch hai lần. Chưa hiệu chỉnh giờ theo nơi sinh; nếu chưa chắc giờ hoặc quy ước tháng nhuận, giữ phần đó là chưa xác nhận.

Đối với lịch nhận và trả tiền, mở bài Tài Bạch và lịch thu chi để xem ví dụ tách số dư cuối tháng khỏi tiền sẵn dùng ở ngày đến hạn. Câu hỏi về ô Quan Lộc có thể tra ở công cụ Sự nghiệp; các khoảng tuổi và cung hạn nằm ở Đại Hạn – Tiểu Hạn. Không ghép các bản khác dữ liệu sinh thành một kết luận tiền bạc.

Giải Mã Tử Vi · Nội dung cập nhật ngày 16/10/2026. Phần nhận diện tên do website thực hiện trên dữ liệu nguồn, không phải thẩm định tài chính hay phép tính lợi nhuận.