Công cụ lấy khoảng Đại Hạn từ đâu?
Từ các nhãn tuổi trên 12 cung của mệnh bàn trả về cho thông tin đã nhập. Mỗi số khởi khoảng được đọc cùng chín tuổi tiếp theo: nhãn 35 tương ứng 35–44, tuổi 44 còn ở khoảng đó, tuổi 45 mới sang khoảng sau. Kết quả chỉ hiện cung có khoảng chứa tuổi đang xét; nếu tuổi nằm trước khoảng đầu hoặc ngoài 12 khoảng của nguồn, trang sẽ nói rõ phần chưa có.
Mệnh bàn dùng cùng nguồn với công cụ lập lá số Tử Vi. Phần đối chiếu này giữ riêng số tuổi, Cục, tên cung và địa chi của cung; không suy khoảng Đại Hạn từ nạp âm năm sinh hoặc từ điểm ngũ hành. Các nhãn trên lá số có thể kiểm tra được; chúng chưa xác nhận công việc, tài sản hay sức khỏe của một người.
Đại Hạn, Tiểu Hạn và Thái Tuế có phải một vị trí?
Không. Đại Hạn được chọn bằng khoảng tuổi; Tiểu Hạn là vị trí của tuổi đang xét theo phép an năm; Thái Tuế nằm tại địa chi của năm xem. Chúng có thể ở ba cung khác nhau. Nếu cùng ở một cung, đó vẫn chỉ là quan hệ vị trí, không phải kết luận tác động gấp đôi hoặc một sự kiện chắc chắn xảy ra.
Ở kết quả, hãy đọc trọn nhãn như “Điền Trạch tại Mão”, thay vì chép riêng “Mão” rồi hiểu thành năm sinh. Tiểu Hạn được nhận diện qua nhãn Chi của năm xem ở hàng dưới của các ô cung trong nguồn. Cách an Tiểu Hạn theo nhóm chi năm sinh và chiều nam/nữ có thể đối chiếu ở bài an Đại Hạn và Tiểu Hạn của StarLin; bài này không dùng các nhận định dự đoán của nguồn để chấm tốt xấu.
Đổi năm xem có luôn làm đổi Đại Hạn?
Không. Những tuổi liên tiếp còn nằm trong cùng một khoảng mười tuổi vẫn dùng cùng cung Đại Hạn. Tiểu Hạn và Thái Tuế được đọc lại theo năm. Muốn kiểm năm chuyển, dùng tuổi đầu của khoảng kế tiếp và loại tuổi ghi trên mệnh bàn; không lấy ngày sinh nhật dương lịch làm ngày bắt đầu hạn.
Bản đối chiếu sâu giữ cùng mệnh bàn để đặt năm trước, năm đang xem và năm sau cạnh nhau, đồng thời liệt kê 12 khoảng tuổi nguồn đã trả. Bảng này không tính thêm sao lưu theo tháng, ngày hoặc giờ. Một mốc chuyển khoảng không phải lịch bắt buộc để đổi việc, kết hôn hoặc thực hiện một khoản chi.
Chưa rõ giờ sinh thì có nên chọn 0 giờ để tra?
Không. 0 giờ là nửa đêm; chọn thay cho giờ chưa biết sẽ tạo dữ liệu sinh khác. Cung Mệnh và nhãn tuổi có thể đổi theo giờ. Nếu chỉ còn khoảng giờ nghi ngờ, cần ghi lại sự chưa chắc chắn ấy và đối chiếu các bản với cùng ngày, loại lịch và năm xem; không chọn bản có lời luận mình thích rồi coi là đã xác nhận giờ.
Trang nhận ngày dương lịch và khoảng giờ 0–23; mốc đầu giờ được gửi để lập mệnh bàn. Nếu đang nhớ ngày âm, dùng đổi ngày âm dương với đúng năm và tháng nhuận trước. Tuổi hiển thị là tuổi trong mệnh bàn của năm đang xét, không phải tuổi dương vừa qua sinh nhật.
Riêng khoảng 23:00–23:59, nguồn mệnh bàn đang dùng chuyển phần ngày âm sang ngày kế tiếp để an cung; ngày dương lịch đã nhập vẫn giữ nguyên. Điều này có thể đổi cả năm âm và tuổi trên mệnh bàn khi sát Tết. Kết quả sẽ ghi riêng ngày âm dân sự và ngày âm dùng để an bản này; không áp quy ước đó cho mọi trường phái hoặc cho công cụ Can Chi ngày dân sự.
Khi nguồn chưa trả đủ dữ liệu thì đọc phần nào?
Đọc hướng dẫn công khai và kiểm lại đầu vào trước khi bấm tra lại. Trang không thay một mệnh bàn thiếu cung, sai năm hoặc không khớp ngày sinh bằng lời luận chung. Đổi ngày, giờ, giới tính hoặc năm xem sẽ xóa kết quả trước, để không nhầm dữ liệu cũ là bản vừa tra.
Nguồn mệnh bàn: công cụ lá số Lịch Ngày Tốt. Phần mở rộng dùng quyền truy cập báo cáo hiện có; việc xem vị trí hạn không bảo đảm khả năng dự đoán. Muốn tự kiểm cách đếm và khác biệt quy ước cung khởi, đọc hướng dẫn khoảng tuổi và phép đếm cung.







