Xem năm tuổi và Thái Tuế: đối chiếu cả năm nhãn theo chi năm

Năm tuổi là năm có cùng chi với năm sinh âm. Nhập hai năm âm đã xác định để kiểm từng nhãn Trực, Xung, Hình, Hại và Phá; một cặp có thể khớp nhiều nhãn. Kết quả là tra bảng văn hóa, không dự báo tai họa hoặc sức khỏe.

Tra cơ bản và bảng quy tắc miễn phí. Phiếu theo dõi tối đa 12 năm có phí 19.000đ cho đúng hai năm đã nhập khi dịch vụ sẵn sàng; không phải dịch vụ giải hạn.

Hai số năm âm dùng mốc Tết, không lấy năm dương thay năm âm. Nhập từ năm 1900; năm sinh không quá năm hiện tại và năm tra không quá 2200, không trước năm sinh. Chưa xác định năm âm thì đổi ngày sinh thật trước. Phép tra không dùng giới tính hoặc giờ sinh.

Năm tuổi có nghĩa là cùng con giáp với năm đang xét

Đúng theo phép tra ở đây: năm sinh âm và năm tra cùng chi thì có nhãn Trực Thái Tuế, thường gọi là năm tuổi. Xung, Hình, Hại và Phá là các quan hệ khác; trang kiểm từng nhãn riêng, không dùng một nhãn để che những nhãn còn khớp.

Mười hai huy hiệu con vật xếp quanh la bàn trên giấy, cạnh chén trà và vải đỏ
Vòng mười hai con giáp giúp hình dung chi lặp lại; hình không biểu diễn vị trí sao Mộc vào ngày sinh.

Cứ cách 12 năm là cùng chi, có phải luôn cùng Can Chi?

Cách 12 năm giữ lại chi, nhưng Can có thể khác; cả Can và Chi lặp lại sau 60 năm trong vòng Hoa Giáp. Ví dụ 1978 là Mậu Ngọ, 2026 là Bính Ngọ: cùng Ngọ nên 2026 là năm tuổi của người có năm sinh âm 1978, nhưng không phải hai năm cùng tên Can Chi.

Tuổi quy ước từ hai số năm là 2026−1978+1=49. Hiệu 2026−1978=48 là khoảng cách hai số năm, chưa đủ để biết tuổi tròn tại một ngày cụ thể vì chưa có ngày sinh và ngày đối chiếu. Công cụ không gọi 49 là tuổi dương hoặc gán một biến cố tuổi 49.

Người sinh đầu năm dương nhập số năm nào?

Nhập số của năm âm đã xác định theo mốc Tết mà trang này dùng. Người sinh trước Tết có thể thuộc năm âm mang số của năm dương trước đó; chỉ biết năm trên giấy khai sinh chưa đủ để quyết định con giáp trong trường hợp này.

Chưa xác định thì mở đổi ngày âm dương, dùng ngày sinh thật rồi đọc năm âm trả về. Kiểm tương tự với năm đang xét: trước Tết chưa tự đổi sang chi của năm âm mới. Form không tự chuyển ngày sinh vì không nhận ngày, tháng.

Các cách luận dùng mốc Lập Xuân có thể cho ranh giới khác; không trộn năm theo Lập Xuân vào bản tra đã quy ước Tết. Chọn mốc trước, rồi giữ cùng mốc cho cả hai năm.

Năm nhãn được đối chiếu từ những cặp nào?

Bảng đang dùng để tra hai chi năm
NhãnĐiều kiện khớp
TrựcHai năm cùng chi, tức năm tuổi.
XungHai chi cách 6 vị trí: Tý–Ngọ; Sửu–Mùi; Dần–Thân; Mão–Dậu; Thìn–Tuất; Tỵ–Hợi.
HìnhTý → Mão; Mão → Tý; Sửu → Tuất; Tuất → Mùi; Mùi → Sửu; Dần → Tỵ; Tỵ → Thân; Thân → Dần; Thìn → Thìn; Ngọ → Ngọ; Dậu → Dậu; Hợi → Hợi. Trang kiểm cả hai chiều của cặp, ghi chiều khớp trong kết quả.
HạiTý–Mùi; Sửu–Ngọ; Dần–Tỵ; Mão–Thìn; Thân–Hợi; Dậu–Tuất.
PháTý–Dậu; Sửu–Thìn; Dần–Hợi; Mão–Ngọ; Tỵ–Thân; Mùi–Tuất.

Hướng Hình, sáu cặp Hại và cặp đối Xung được đối chiếu với các mục XI–XIII trong Ngũ Hành Đại Nghĩa, quyển II. Sáu cặp Phá dùng đoạn “Phá” trong Lục Nhâm Đại Toàn, bản Tứ Khố, quyển I. Đây là nguồn thuật ngữ và quy tắc truyền thống, không phải dữ liệu thực nghiệm về bệnh hoặc vận may.

Các nguồn cổ có thể dùng “Xung/Phá” theo cách khác và có cách xét chiều Hình khác. Bản tra công khai quy ước kiểm cả hai chiều và tự Hình; không nhận mình là cách duy nhất của mọi trường phái. Hai chi năm cũng chưa cho biết toàn bộ nhóm ba chi hoặc các trụ tháng, ngày, giờ của một lá số.

Lịch ô trên bàn gỗ, phía trước là các thẻ trắng, điện thoại, bút và la bàn
Kiểm đúng năm âm trước khi đối chiếu; lịch hẹn trong đời sống vẫn cần ngày dương cụ thể.

Vì sao một người có thể thấy hai nhãn?

Vì các điều kiện được kiểm độc lập. Người có năm sinh âm 1978 (Mậu Ngọ), tra 2026 (Bính Ngọ), khớp Trực vì cùng Ngọ và Hình vì bảng có Ngọ→Ngọ. Hai nhãn mô tả hai phép đối chiếu, không có nghĩa là tai họa gấp đôi.

Một ví dụ khác: năm sinh âm 1998 (Mậu Dần), tra 2025 (Ất Tỵ), khớp hướng Dần→Tỵ trong Hình và cặp Dần–Tỵ trong Hại. Nếu chỉ dừng ở nhãn đầu tiên, kết quả sẽ bỏ mất một điều kiện khớp. Ngược lại, không có nhãn nào trong năm điều kiện chỉ có nghĩa là cặp không thuộc bảng này, chưa phải lời hứa một năm an toàn hoặc thuận lợi.

Chu kỳ sao Mộc có chứng minh năm tuổi gây biến động đời người?

Không thể suy kết luận ấy từ chu kỳ quỹ đạo. NASA mô tả sao Mộc đi quanh Mặt Trời khoảng 4333 ngày, gần 12 năm Trái Đất; con số này không xác nhận người cùng tuổi sẽ bệnh, đổi việc hoặc gặp khó khăn khi chi năm lặp lại.

Công cụ chỉ tính vòng tên năm và cặp chi. Nó không nhận vị trí hành tinh tại ngày sinh, không đo chu kỳ sinh học, không khảo sát các biến cố của người dùng và không quy đổi quan hệ chi thành xác suất hoặc điểm tốt/xấu.

Nhìn nhãn Thái Tuế rồi cân nhắc một việc thế nào?

Giữ tên nhãn như thông tin văn hóa; khi xét việc thật, hỏi dữ kiện của chính việc đó. Kết quả không biết khả năng thực hiện, lịch của người tham gia, bệnh sử, điều kiện tài chính hoặc thỏa thuận của bạn để cho phép hay cấm một kế hoạch.

Ví dụ giả định: Chúc thấy nhãn Xung khi cân nhắc đổi việc. Bảng chỉ giải thích cặp chi của hai năm. Công việc mới, điều đã được xác nhận và điều Chúc còn cần hỏi là một nhóm thông tin khác; không thể điền các dữ kiện ấy bằng một chữ “Xung”.

Trang không bán lễ giải hạn, không hứa một khoản chi hoặc vật phẩm sẽ đổi nhãn trong bảng. Bản đối chiếu riêng nếu mở thêm chỉ theo dõi những năm tiếp theo của đúng dữ liệu đã nhập; phần tra cơ bản và quy tắc luôn công khai.

Bốn thẻ ghi chú có biểu tượng trên bàn cạnh sổ, bút và la bàn
Tên gọi trong bảng và việc đang gặp cần được ghi riêng để tránh suy diễn từ một nhãn.