Tuổi Mậu Thìn 1988: Đại Lâm Mộc và mốc đổi năm
Tuổi Mậu Thìn có nạp âm Đại Lâm Mộc, thuộc hành Mộc; 1928 và 1988 là hai chu kỳ tiêu biểu cách nhau 60 năm. Tuy nhiên, sinh trong năm dương 1988 chưa chắc đã là Mậu Thìn theo mốc Tết. Riêng ngày 10/02/1988 còn thuộc năm âm Đinh Mão theo phép đổi UTC+7 của website, dù đã qua ngày Lập Xuân ghi trong bảng lịch của năm ấy.
- Mậu
- Thiên can, quy ước Dương Thổ.
- Thìn
- Địa chi, quy ước Dương Thổ, gắn với hình tượng rồng.
- Đại Lâm Mộc
- Nạp âm của cả cặp Mậu Thìn, hành Mộc; không đổi thành Thổ vì hai nhãn can và chi phía trên cùng thuộc Thổ.
Thuộc tính của Mậu và Thìn có trong bảng Thiên Can, Địa Chi của iztro. Còn bài ca nạp âm trong Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, quyển hai ghi cặp Mậu Thìn – Kỷ Tỵ với tên 大林木, Đại Lâm Mộc. Kỷ Tỵ cùng nạp âm không có nghĩa là cùng tuổi Thìn.
Hình tượng rừng lớn giúp nhớ tên Đại Lâm Mộc. Nó chưa xác nhận người sinh năm ấy có năng lực lãnh đạo, phù hợp ngành giáo dục hay phải làm chỗ dựa cho gia đình. Hai chữ Thổ của can và chi cũng chưa phải phép đếm vượng suy của một bản sinh. Muốn đọc thêm nhãn năm, ngày và cung, xem Can Chi trong lá số.

Ngày 10/02/1988 đã là năm Mậu Thìn chưa?
Chưa, nếu chọn năm theo Tết âm lịch như bộ chọn bài của website. Ngày 10/02/1988 dương đổi ra 23/12/1987 âm, còn là năm Đinh Mão. Đến 17/02/1988, tức mùng Một tháng Giêng, mới sang năm âm Mậu Thìn theo cách chọn này. Nếu một nguồn lấy Lập Xuân làm mốc đổi năm thì ngày 10/02 đã nằm sau mốc ấy; đó là quy ước khác cần được ghi rõ.
- — mốc Lập Xuân trong bảng lịch HKO.
Đây là ngày tiết khí được nguồn Hong Kong ghi, không phải mùng Một Tết và không phải kết quả đổi sang ngày âm của website.
- — ngày giả định để đối chiếu.
Đã qua ngày Lập Xuân trong bảng ấy nhưng còn trước Tết. Công cụ UTC+7 của website trả 23/12/1987 âm và năm Đinh Mão; không chỉ nhìn số 1988 rồi điền Mậu Thìn.
- — mùng Một Tết.
Công cụ UTC+7 trả 01/01/1988 âm và năm Mậu Thìn. Đây là mốc đổi năm của cách tra theo Tết đang dùng ở bài này.
Bảng lịch 1988 của Đài Thiên văn Hong Kong đặt Lập Xuân vào ngày 04/02 và ngày đầu tháng Giêng vào 17/02. Nguồn Hong Kong dùng UTC+8; bài chỉ đối chiếu các mốc đã nêu với phép đổi UTC+7, không coi toàn bộ ngày âm giữa hai múi giờ đều giống nhau. Ví dụ 10/02 không xử lý trường hợp sinh ngay sát giờ giao tiết ngày Lập Xuân.
Trong giải thích về thời điểm đổi năm Can Chi, HKO phân biệt mốc đầu tháng Giêng của lịch với tập quán dùng Lập Xuân trong một số cách luận. Vì vậy, hai kết quả “Đinh Mão theo Tết” và “Mậu Thìn theo Lập Xuân” cho ngày nằm giữa hai mốc chưa tự chứng minh bên nào tính sai; trước hết phải xem mỗi bên đang dùng ranh giới nào. Không ghép can năm theo một mốc với nạp âm chọn từ mốc khác rồi gọi đó là cùng một kết quả.
Để tự kiểm ví dụ, nhập lần lượt ngày dương 10/02/1988 và 17/02/1988 tại công cụ đổi ngày âm dương, đọc cả ngày âm và dòng Can Chi năm. Đây là hai đầu vào kiểm lịch, không phải hai trường hợp đã được tư vấn hoặc theo dõi cuộc đời.
Sau khi đã giữ đúng ngày và quy ước, bộ chọn bài theo ngày sinh giúp mở nhóm tuổi cùng nhánh nam, nữ. Mở đúng bài năm chưa xác định cung Mệnh, Ngũ Hành Cục, nghề nghiệp hay vận hạn của một người. Có thể đọc thêm ví dụ nhận năm ở bài tuổi Ất Mùi; giữ nguyên dữ liệu của từng năm, không lấy ngày Tết 1988 áp sang 1928 hoặc một chu kỳ khác.
Cập nhật:






