Tuần–Triệt trong lá số Tử Vi: cách an và đọc cặp vị trí

Tuần và Triệt là hai ký hiệu Không Vong trong cách lập và đọc lá số Tử Vi, được an tại từng cặp địa chi theo hai quy tắc khác nhau. Tuần lấy tuần Can Chi mười cặp; Triệt lấy nhóm thiên can năm sinh. Trước khi đọc lời “cản”, “chậm” hoặc “giảm hung”, cần kiểm đúng hai cặp vị trí. Chúng không tự xóa tên sao hoặc biến một lời luận thành kết quả chắc chắn.

An Tuần theo tuần Can Chi thế nào?

Xác định năm âm thuộc tuần nào trong sáu tuần của vòng sáu mươi Can Chi, rồi lấy cặp địa chi ghi ở hàng đó. Mỗi tuần ở đây gồm mười cặp từ can Giáp đến can Quý, không phải tuần bảy ngày. Hai địa chi không xuất hiện trong mười cặp ấy là cặp Không Vong của tuần.

Bảng Tuần theo mục an Tuần trung Không Vong của Toàn Thư
Tuần bắt đầu bằngCặp vị trí Tuần
Giáp TýTuất – Hợi
Giáp TuấtThân – Dậu
Giáp ThânNgọ – Mùi
Giáp NgọThìn – Tỵ
Giáp ThìnDần – Mão
Giáp DầnTý – Sửu

Ví dụ tuần Giáp Tý chạy qua Giáp Tý, Ất Sửu, Bính Dần, Đinh Mão, Mậu Thìn, Kỷ Tỵ, Canh Ngọ, Tân Mùi, Nhâm Thân, Quý Dậu. Hai chi còn lại là Tuất và Hợi. Không lấy riêng can Giáp hoặc riêng chi Tý để thay cả mười cặp trong phép tra.

Khung lá số trống với hai cổng đỏ và các đường mũi tên, bên cạnh núi, trúc, mặt trời và logo góc trên trái
Cổng và đường nét gợi một cách hình dung; vị trí Tuần–Triệt được tra từ Can Chi trong bảng.

An Triệt có dùng lại bảng sáu tuần không?

Không. Theo bảng đang đối chiếu, Triệt Lộ Không Vong lấy can của năm sinh, ghép thành năm nhóm hai can. Chọn đúng hàng can năm rồi đọc cặp địa chi; không chuyển cặp Tuần vừa tra sang dòng Triệt.

Bảng Triệt theo can năm sinh
Can năm sinhCặp vị trí Triệt
Giáp hoặc KỷThân – Dậu
Ất hoặc CanhNgọ – Mùi
Bính hoặc TânThìn – Tỵ
Đinh hoặc NhâmDần – Mão
Mậu hoặc QuýTý – Sửu

Hai mục an Triệt Lộ và an Tuần trung Không Vong trong Toàn Thư quyển hai ghi riêng hai bảng này. Mục Triệt Lộ Không Vong của hướng dẫn an sao NCC cũng cho cùng năm cặp Triệt vừa nêu. Bài dùng các đoạn ấy để đối chiếu vị trí, không dùng lời đoán số phận trong sách làm bằng chứng thực nghiệm.

Cùng can Giáp, vì sao có lúc Tuần và Triệt khác cặp, có lúc trùng?

Vì can Giáp giữ nguyên hàng Triệt, còn tuần chứa cả cặp Can Chi có thể thay đổi. Hai ví dụ đã xác định năm âm dưới đây cho thấy sự khác nhau mà chưa cần giả định tháng hoặc giờ sinh.

Năm âm Giáp Tý, như vòng năm 1984
Thuộc tuần Giáp Tý, nên Tuần tại Tuất–Hợi. Can Giáp dùng hàng Giáp/Kỷ, nên Triệt tại Thân–Dậu. Hai ký hiệu ở hai cặp khác nhau.
Năm âm Giáp Tuất, như vòng năm 1994
Thuộc tuần Giáp Tuất, nên Tuần tại Thân–Dậu. Can vẫn là Giáp, nên Triệt cũng tại Thân–Dậu. Đây là hai kết quả độc lập cùng trùng cặp, không phải xóa một nhãn hoặc cộng thành một số điểm.

Số năm dương 1984 hoặc 1994 riêng lẻ chưa đủ cho người sinh sát Tết; ví dụ đã cho năm âm Giáp Tý hoặc Giáp Tuất. Khi thực hành trên dữ liệu riêng, xác nhận lịch và ranh năm của công cụ trước. Bài Can Chi trong lá số giúp phân biệt can năm, chi năm và Can Chi ghi tại cung.

Đồ họa từ đĩa âm dương chia bốn nhánh có đồng hồ, lối hẹp, đường rẽ và lưới lọc trên nền núi, logo ở góc dưới phải
Bốn nhánh là hình ẩn dụ, không cho một mức “lực chặn” đo được.

Cặp địa chi đã tra có cho biết Tuần–Triệt ở Mệnh hay Quan Lộc chưa?

Chưa. Thân–Dậu, Tuất–Hợi… là tọa độ địa chi; Mệnh, Quan Lộc… là tên cung chức năng. Tháng và giờ dùng để an khung cung có thể làm cùng một cặp địa chi mang các tên cung khác nhau. Hai ví dụ trên chưa cho các dữ kiện ấy nên không tự gán Tuần hoặc Triệt vào Mệnh, Tài Bạch hay Phu Thê.

Trên bản vẽ, chữ Tuần hoặc Triệt có thể được đặt ngang ranh hai ô. Đọc chú giải để xác nhận hai ô mà bản đang chỉ tới; không chỉ nhìn chữ nằm gần tiêu đề cung nào rồi bỏ ô còn lại. Bài Mệnh và Thân trình bày cách tìm vị trí cung trước khi đọc sao ở đó.

Các bảng ở bài dùng năm sinh để kiểm nhãn gốc. Khi đổi năm xem hoặc đọc một lớp lưu theo tài liệu khác, cần giữ nhãn lớp thời gian. Không tự dời cặp gốc chỉ vì màn hình vừa chuyển sang một năm mới, hoặc lấy một vị trí lưu ghép vào nhận xét sao gốc mà bỏ chữ “lưu”.

Những lời “lực chặn”, “giảm hung” hay “qua 30 tuổi” nên hiểu ra sao?

Đó là ngôn ngữ diễn giải truyền thống hoặc cách ví để kể về lá số, không phải đại lượng lực đo được hay hệ số giảm rủi ro. Đối chiếu được cặp vị trí không tự chứng minh việc thăng chức, thu tiền chậm, bệnh tật hay một quan hệ là do Tuần–Triệt.

Vì thế không mặc định sao tốt mất hết tác dụng, sao xấu trở thành an toàn, Mệnh vô chính diệu tự tốt lên hoặc mọi người đều hết ảnh hưởng sau cùng một tuổi. Muốn trình bày một lời luận của tài liệu, cần giữ nguồn, sao/cung và điều kiện mà tài liệu đang nói; không thay chúng bằng câu quyết chung cho mọi lá số.

Người đàn ông áo chàm ngồi vẽ đường nối trên giấy, một tay cầm bút và tay kia gần cằm, cạnh cửa sổ và dụng cụ đồng, logo góc dưới trái
Ghi riêng vị trí đã tra với lời đang diễn giải để tránh gộp hai việc.

Khi một việc bị chậm, hãy ghi riêng điều quan sát được và nguyên nhân có dữ kiện, thay vì gọi mọi sự trì hoãn là bằng chứng của ký hiệu. Bảng an giúp kiểm cấu trúc; nó không cung cấp một thí nghiệm xác nhận khả năng dự báo. Hướng dẫn đọc Tử Vi trọn đời giúp giữ rõ phần biết từ năm với phần còn cần của một lá số riêng.

Giải Mã Tử Vi · Nội dung cập nhật ngày . Hai bảng an đối chiếu theo nguồn dẫn tại chỗ; ví dụ năm âm là giả định tính vị trí, chưa phải hồ sơ đủ ngày giờ hoặc bản luận cá nhân.

Cập nhật: