Tân Hợi nam mạng: Khôi, Việt ở Dần hay Ngọ?
Trong hai bản nguồn được so ở đây, thứ tự vị trí của Khôi và Việt theo can Tân không giống nhau. Đọc hai vế theo thứ tự Thiên Khôi rồi Thiên Việt của tên mục: bản Toàn Thư đang dẫn cho Dần–Ngọ, bản NCC cho Ngọ–Dần. Cùng nhìn thấy hai ô Dần và Ngọ chưa đủ để nói hai bản an giống nhau; cần giữ tên từng sao cạnh vị trí của nó.
| Bản nguồn đang so | Thiên Khôi | Thiên Việt |
|---|---|---|
| Toàn Thư, quyển hai | Dần | Ngọ |
| An Tinh Quyết, NCC | Ngọ | Dần |
Mục an Thiên Khôi–Thiên Việt trong Toàn Thư quyển hai trên Wikisource dùng cặp hổ–ngựa cho can Tân, tương ứng Dần–Ngọ. Mục an Khôi Việt trong An Tinh Quyết trên NCC ghi Ngọ–Dần cho Tân. Bảng chỉ đối chiếu hai bản số cụ thể ấy, chưa hiệu đính mọi truyền bản mang cùng tên sách.

Cùng có Dần và Ngọ, có thể coi là cùng kết quả không?
Không khi câu hỏi cần biết sao nào nằm ở một ô. Hai bảng giữ cùng tập vị trí nhưng đổi tên sao gắn với từng vị trí. Giả sử một khung cung đã được an với Mệnh tại Dần, chỉ thay bảng Khôi Việt để đối chiếu: cột Toàn Thư cho Thiên Khôi tại Mệnh, còn cột NCC cho Thiên Việt tại Mệnh.
Vì vậy, câu “Khôi ở Mệnh” không được xác nhận chỉ bằng ghi chú “Khôi Việt ở Dần, Ngọ”. Trong khung Mệnh Dần vừa giả định, nếu đã chọn cột NCC thì không mượn Thiên Khôi tại Dần từ cột Toàn Thư. Cũng không gộp thành cả Khôi lẫn Việt cùng ở Dần: mỗi cột trong bảng vẫn đặt hai sao ở hai ô khác nhau.
Mệnh Dần ở đây là điều kiện được cho để kiểm tên sao, không phải kết quả lập lá số cho mọi nam Tân Hợi. Bài không có tháng và giờ của từng người để tự an Mệnh. Nếu bản đang xem đặt Mệnh ở ô khác, phải đọc lại quan hệ tại ô đó, không chép nguyên câu “Khôi tại Mệnh” của ví dụ.

Khi hai phần mềm hiển thị khác nhau, trước hết kiểm bảng an có ghi rõ từng tên Thiên Khôi, Thiên Việt cho can Tân hay không. Chỉ thấy tên sách trong lời giới thiệu, hoặc thấy hai ô được tô sáng, chưa đủ xác nhận thứ tự. Giữ lại bảng và quy ước của bản đang đọc; khi nguồn không ghi tên từng sao, phần thứ tự ấy vẫn chưa được xác minh. Không quy khác biệt này cho chữ Nam, nạp âm hoặc một lần đổi giờ sinh để tìm kết quả mong muốn.
Bài Tả Hữu, Xương Khúc, Khôi Việt giải thích dữ liệu dùng để an từng cặp và phân biệt đồng cung với hội Mệnh. Trường hợp Tân ở đây hẹp hơn: hai nguồn có cùng hai ô nhưng đổi thứ tự tên sao. Nó không phải phép chấm quý nhân, học lực hay khả năng được giúp đỡ.

Nam thuộc năm âm Tân Hợi 1911 và 1971 cùng dùng can Tân cho việc đối chiếu này, cùng nạp âm Thoa Xuyến Kim. Bài ca nạp âm trong quyển hai vừa dẫn ghép Canh Tuất–Tân Hợi dưới tên 釵釧金. Tên nạp âm không chọn hộ một trong hai bảng Khôi Việt và không bảo đảm người thuộc nhóm này sẽ có quý nhân cứu giúp hoặc thi cử thành công.
Hai ngày nam sinh giả định 01/07/1911 và 01/07/1971 mở nhóm Tân Hợi ở bộ chọn bài theo ngày sinh. Đây chỉ là kiểm đường tới nhóm năm, không phải hai ngày đã được gán khung Mệnh Dần của ví dụ. Hướng dẫn đọc Tử Vi trọn đời phân biệt bài theo năm với một lá số có dữ liệu riêng.







