Quý Sửu nam mạng: sao Thiên Phúc có phải cung Phúc Đức?
Thiên Phúc là tên sao, còn Phúc Đức trong khung mười hai cung là tên cung; không thay hai nhãn cho nhau vì cùng có chữ Phúc. Với can Quý, phép an đang dẫn đặt sao Thiên Phúc tại Tỵ. Nếu giả định nam Quý Sửu sinh tháng Giêng âm lịch thường, giờ Tý, thì Mệnh ở Dần và cung Phúc Đức ở Thìn. Trong khung này, Thiên Phúc ở Tỵ không có nghĩa cung Phúc Đức cũng ở Tỵ.
| Nhãn đang tra | Đầu vào dùng trong ví dụ | Vị trí |
|---|---|---|
| Sao Thiên Phúc | Can Quý của năm sinh. | Tỵ. |
| Cung Phúc Đức | Tháng Giêng và giờ Tý an Mệnh tại Dần, rồi đặt khung cung. | Thìn. |
Mục an Thiên Quan–Thiên Phúc trong An Tinh Quyết trên NCC ghi cặp Ngọ–Tỵ cho can Quý. Thiên Phúc là vế thứ hai, tương ứng Tỵ. Cũng trang ấy, mục mười hai cung có Phúc Đức trong danh sách cung được đặt từ Mệnh. Đó là hai mục tra khác nhau, không phải hai cách viết rút gọn của cùng một tên.

Đọc hai vị trí này thành câu thế nào cho đúng?
Giữ nguyên loại nhãn khi đọc: “Thiên Phúc tại ô Tỵ; cung Phúc Đức tại ô Thìn trong khung giả định”. Không đổi câu đầu thành “Phúc Đức tại Tỵ”, cũng không kéo sao Thiên Phúc sang Thìn để tên sao trùng chữ với cung.
Để kiểm dòng cung, mục an Mệnh của nguồn NCC khởi tháng Giêng tại Dần, giờ Tý đứng ngay điểm tháng nên Mệnh ở Dần. Thứ tự cung đi nghịch từ Mệnh; Phúc Đức là mục thứ mười một nếu tính cả Mệnh, tức cách mười bước. Lùi mười bước trên vòng mười hai ô cũng là tiến hai bước: từ Dần qua Mão đến Thìn. Phụ Mẫu nằm ở Mão giữa Mệnh Dần và Phúc Đức Thìn. Mục an mười hai cung trong Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư quyển hai cho phép đối chiếu thứ tự ấy.
Ở dòng sao Thiên Phúc, đầu vào vẫn chỉ là can Quý theo quyết được dẫn; không dùng tháng Giêng để dời sao về Thìn. Ngược lại, chỉ biết can Quý và sao tại Tỵ chưa xác định được nơi đặt cung Phúc Đức. Dữ liệu tháng và giờ trong bảng là giả định đã cho dưới dạng tháng âm thường và giờ chi, không phải kết quả vừa đổi từ một ngày giờ dương chưa biết.

Thiên Phúc có thể nằm trong cung Phúc Đức nếu khung cung được an cho một trường hợp khác đặt Phúc Đức đúng tại Tỵ. Khi ấy, câu “Thiên Phúc tọa cung Phúc Đức” mô tả một sao nằm trong một cung; nó vẫn không làm hai tên thành đồng nghĩa. Bài chưa đưa ngày giờ để lập trường hợp khác ấy, và không dời cung của ví dụ đang xét chỉ để tạo sự trùng tên.
Bài cung Phúc Đức giải thích phạm vi tên cung, các cung liên hệ và ví dụ Thân cư Phúc. Bảng ở đây chỉ giúp phân loại sao với cung và kiểm hai tọa độ; chưa an Thân, Cục, chính tinh hoặc các lớp vận. Vì thế không dùng chữ Phúc trong một tên sao để bảo đảm được phù hộ, cũng không dùng ô Phúc Đức để chấm đạo đức một người hay cả dòng họ.

Nam thuộc năm âm Quý Sửu 1913 và 1973 cùng dùng can Quý cho phép tra sao Thiên Phúc này, cùng nạp âm Tang Đố Mộc. Tam Mệnh Thông Hội quyển một ghép Nhâm Tý–Quý Sửu dưới mục 桑柘木; nhãn nạp âm không thay dữ liệu tháng–giờ để an cung Phúc Đức. Nhánh Nam của bài cũng không phải điều kiện đổi vị trí Thiên Phúc trong mục nguồn đang dùng.
Hai ngày giả định nam sinh 01/07/1913 và 01/07/1973 mở nhóm Quý Sửu qua bộ chọn bài theo ngày sinh. Hai ngày này chỉ kiểm đường tới nhóm tuổi, không phải hai ngày được gán khung tháng Giêng giờ Tý trong bảng. Hướng dẫn đọc Tử Vi trọn đời phân biệt bài theo năm với dữ liệu cần có cho một lá số riêng.







