Kỷ Hợi nam mạng: cùng giờ sinh vẫn có Cục khác nhau
Cùng là nam Kỷ Hợi và cùng giờ 10:00 vẫn có thể khác Ngũ Hành Cục, vì phép an đang đối chiếu còn dùng tháng âm để đặt Mệnh, rồi lấy Can–Chi của cung Mệnh để định Cục. Hai ngày sinh giả định 19/02/2019 và 19/04/2019 dưới đây lần lượt cho Kim Tứ Cục và Hỏa Lục Cục. Cả hai vẫn thuộc nhóm năm Bình Địa Mộc; tên Mộc của năm sinh không đặt sẵn Mộc Tam Cục cho lá số.
Năm âm Kỷ Hợi có các chu kỳ 1959 và 2019 trong khoảng đang xét. Tam Mệnh Thông Hội quyển một ghi Bình Địa Mộc cho cặp Mậu Tuất–Kỷ Hợi. Cục trong bài lại được định từ Can–Chi cung Mệnh, như mục định Ngũ Hành Cục của An Tinh Quyết; không thay Can–Chi cung ấy bằng Kỷ Hợi của năm sinh.

Giữ 10:00, đổi tháng âm thì Mệnh và Cục thay đổi thế nào?
| Ngày sinh giả định | Ô Mệnh và Can–Chi cung | Cục theo phép đang đối chiếu |
|---|---|---|
| 19/02/2019 15 tháng Giêng âm | Dậu · Quý Dậu | Kim Tứ Cục |
| 19/04/2019 15 tháng Ba âm | Hợi · Ất Hợi | Hỏa Lục Cục |
Đặt Mệnh trước: khởi tháng Giêng tại Dần, đi thuận đến tháng sinh rồi từ ô đó khởi giờ Tý, đếm nghịch đến giờ sinh. Tỵ cách Tý năm bước. Với tháng Giêng, đi nghịch Dần → Sửu → Tý → Hợi → Tuất → Dậu, nên Mệnh ở Dậu. Với tháng Ba, mốc tháng là Thìn; đi nghịch Thìn → Mão → Dần → Sửu → Tý → Hợi, nên Mệnh ở Hợi.
Gắn Can cho cung rồi mới tra Cục: năm can Kỷ dùng phép khởi Bính tại Dần. Đi thuận từ Bính Dần, lần lượt qua Đinh Mão, Mậu Thìn… sẽ có Quý Dậu và Ất Hợi. Vì vậy hai ô Mệnh vừa tìm mang hai cặp khác nhau. Cặp Nhâm Thân–Quý Dậu có nạp âm Kiếm Phong Kim, ứng Kim Tứ Cục; cặp Giáp Tuất–Ất Hợi có nạp âm Sơn Đầu Hỏa, ứng Hỏa Lục Cục trong cách định Cục này.
Phép đếm tháng, giờ và quy tắc năm Giáp/Kỷ khởi Bính Dần có trong mục an Thân Mệnh và khởi Ngũ Hành Dần của Toàn Thư quyển hai. Bảng nạp âm của bản ấy ghi Nhâm Thân–Quý Dậu là Kiếm Phong Kim; nhóm Sơn Đầu Hỏa có thể đối chiếu thêm ở mục Giáp Tuất–Ất Hợi của Tam Mệnh Thông Hội. Các dòng trên là phép triển khai quy tắc vào hai dữ liệu giả định, chưa phải kết quả của một lần lập đầy đủ sao trên công cụ.
Cả hai ví dụ giữ nguyên năm Kỷ Hợi, nhánh Nam, ngày âm 15 và giờ Tỵ; thay tháng thường từ Giêng sang Ba làm đổi mốc an Mệnh. Không cần đổi nạp âm năm Bình Địa Mộc thành Kim hoặc Hỏa để giải thích bảng: chữ Kim/Hỏa ở cột cuối đang nói về Cục, không sửa tên nạp âm năm.

Chỉ biết giờ sinh đã đủ xác định Cục của nam Kỷ Hợi chưa?
Chưa. Với phép an vừa dẫn, còn cần tháng âm theo đúng quy ước để đặt Mệnh, rồi dùng Can năm cùng địa chi cung Mệnh để tra Cục. Nếu tháng chưa biết, giữ hai phương án là hai giả định; không chọn một Cục chỉ vì đã có giờ sinh hoặc biết nạp âm năm là Mộc.
Ngày sinh cũng không phải dữ liệu thừa: ngày dương cần đổi đúng sang lịch âm, còn ngày âm được dùng ở những bước an sao khác khi lập toàn bộ bản. Bảng này chưa xử lý tháng nhuận, giờ sát ranh ngày hoặc quy ước giờ theo nơi sinh; không lấy hai ví dụ tháng thường, 10:00 làm đáp án cho các trường hợp ấy.
Nếu hồ sơ chỉ có ngày dương, dùng đổi ngày âm dương để kiểm tháng và trạng thái nhuận trước. Nếu đang so hai lá số, ghi riêng “nạp âm năm: Bình Địa Mộc”, “Mệnh tại…” và “Cục…” thay vì ghi một chữ “mệnh” chung cho cả ba dòng. Kết quả khác Cục chưa xác nhận khác khả năng kiếm tiền, sức khỏe hoặc tuổi kết hôn.

Hai ngày 19/02/2019 và 19/04/2019 đều mở bài Kỷ Hợi nam ở bộ chọn bài theo ngày sinh; ví dụ giả định nam 01/07/1959 cũng vào nhóm này. Form đó không hỏi giờ, không tính hai Cục của bảng và không tạo hai bản sao riêng cho hai ngày sinh. Hướng dẫn đọc bài Tử Vi trọn đời giúp phân biệt bước chọn bài năm với việc lập lá số cá nhân.







