Canh Thân nữ mạng: cùng tuổi, vì sao Thân cư khác nhau?
Cùng là nữ Canh Thân vẫn có thể khác ô đặt dấu Thân hoặc khác cả tên cung Thân cư, vì phép an đang đối chiếu dùng tháng âm và chi giờ sinh. Chữ Thân trong tên năm không đặt sẵn dấu Thân, và chọn Nữ không mặc định Thân cư Phu Thê. Các chu kỳ năm âm Canh Thân 1920 và 1980 cùng nạp âm Thạch Lựu Mộc; nhãn năm ấy chưa đủ xác định Mệnh, Thân hay một cách sống chung cho người đọc.

Giữ cùng tuổi, đổi tháng hoặc giờ thì vị trí nào thay đổi?
Giữ giờ Tỵ rồi chuyển từ tháng Năm sang tháng Sáu thường, hai ô Mệnh và Thân cùng dịch một địa chi nhưng vẫn Thân cư Phu Thê. Giữ tháng Năm rồi đổi từ giờ Tỵ sang giờ Ngọ, dấu Thân lại trùng ô Mệnh. Ba phương án giả định dưới đây chỉ kiểm phần vị trí theo phép an tháng và giờ; không phải ba kết quả của cùng một người.
| Ngày giờ giả định | Mệnh tại | Dấu Thân và tên cung |
|---|---|---|
| 01/07/1980 · 10:00, giờ Tỵ 19/5 âm | Sửu | Hợi · Thân cư Phu Thê |
| 01/08/1980 · 10:00, giờ Tỵ 21/6 âm | Dần | Tý · Thân cư Phu Thê |
| 01/07/1980 · 12:30, giờ Ngọ 19/5 âm | Tý | Tý · Thân cư Mệnh |
Hai dòng đầu cùng tên Thân cư nhưng khác ô: tháng Năm lấy mốc Ngọ, tháng Sáu lấy mốc Mùi khi khởi tháng Giêng ở Dần và đi thuận theo tháng. Với giờ Tỵ, từ mốc tháng đi nghịch năm bước để đặt Mệnh và thuận năm bước để đặt Thân. Kết quả lần lượt là Sửu–Hợi và Dần–Tý. Từ Mệnh xếp Huynh Đệ rồi Phu Thê theo chiều nghịch: Sửu → Tý → Hợi, hoặc Dần → Sửu → Tý. Vì vậy cả hai đều đọc Thân cư Phu Thê.
Dòng cuối giữ tháng, đổi giờ: từ mốc Ngọ của tháng Năm, giờ Ngọ cách mốc Tý sáu bước. Đi nghịch sáu bước hoặc thuận sáu bước trên vòng mười hai địa chi đều đến Tý, nên Mệnh và dấu Thân cùng tại Tý. Đây là Thân Mệnh đồng cung, không phải hai ô Tý hoặc hai bộ sao phải cộng đôi.
Hai mục an Thân Mệnh và an mười hai cung trong Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư quyển hai nêu chiều đếm tháng, giờ và thứ tự cung. Phần an Mệnh–Thân trong mã nguồn iztro cũng tách hai chiều nghịch/thuận theo giờ. Bài chỉ đối chiếu phép đặt vị trí này; không lấy ví dụ tháng thường làm quy tắc cho tháng nhuận hoặc giờ sát ranh ngày.

Chữ Thân trong Canh Thân có phải dấu Thân cư trên lá số?
Không. Chi Thân trong tên năm là 申, còn dấu Thân được nói đến trong phép an Thân Mệnh là 身. Tên cung Phu Thê hoặc Mệnh lại trả lời cung chức năng nào đang chứa dấu ấy. Ví dụ ở bảng cho thấy nữ Canh Thân có thể Thân tại Hợi hoặc Tý; không phải cứ thấy chữ Thân là đặt vào ô địa chi Thân.
Cũng không từ nhánh Nữ suy ra Thân phải cư Phu Thê. Phép đếm tháng và giờ vừa trình bày không lấy giới tính làm bước chọn cung cư. Quy tắc khác, chẳng hạn chiều vận, cần được đọc trong phần phương pháp tương ứng; không kéo một điều kiện của chiều vận vào thay bước an Mệnh và Thân.
Nhãn Thân cư Phu Thê không buộc một người phải kết hôn, dựa vào chồng hoặc nhận trách nhiệm cho mọi việc trong gia đình. Nó mới là kết quả đặt một dấu trong khung cung theo truyền thống. Bảng chưa có danh sách sao, Cục hay đại vận; không suy từ một ô ra nghề hợp, năng lực quản trị, bệnh tật hoặc tuổi chắc gặp chuyện.
Bài Thân cư các cung có đủ sáu nhóm giờ và cách kiểm tên cung với ô địa chi. Nếu giờ sinh chưa rõ, giữ các phương án là giả định thay vì chọn dòng có tên cung nghe thuận. Tháng sinh dùng để đếm là tháng âm theo quy ước đã xác định, không lấy trực tiếp số 7 hoặc số 8 của hai ngày dương trong bảng.

Qua bộ chọn bài theo ngày sinh, nữ sinh 01/07/1980 và 01/08/1980 vẫn cùng mở bài Canh Thân; ví dụ 01/07/1920 cũng vào nhóm này. Form đó không hỏi giờ nên không trả ba vị trí riêng của bảng. Khi cần đọc Mệnh và dấu Thân trên bản cá nhân, trang tra Mệnh–Thân giải thích đầu vào, vị trí và sao từ bản nguồn; đối chiếu quy ước của công cụ trước khi so kết quả với các khung giả định ở đây.







