Thân cư các cung: tra theo giờ sinh và kiểm vị trí Mệnh – Thân

Thân chỉ nằm cùng một trong sáu cung: Mệnh, Phúc Đức, Quan Lộc, Thiên Di, Tài Bạch hoặc Phu Thê, theo phép an tháng và giờ trình bày ở đây. Chữ “cư” cho biết dấu Thân được đặt vào cung nào trong bộ mười hai cung đã có. Nó không tạo ra cung thứ mười ba, cũng không tự cho biết người ấy giàu, nghèo, hạnh phúc hay hợp một nghề nhất định. Muốn tra, cần phân biệt tên cung chức năng với địa chi ghi trên ô.

Có giờ sinh rồi, tra Thân cư cung nào?

Với cách an đang dùng, hai chi giờ đối nhau cho cùng tên cung Thân cư. Chẳng hạn giờ Mão và giờ Dậu đều cho Thân cư Thiên Di. Bảng dưới trả lời tên cung chức năng; chưa trả lời cung ấy nằm tại địa chi nào trên một lá số cụ thể.

Sáu nhóm giờ và vị trí Thân tính từ Mệnh
Chi giờ sinhThân cưTừ ô Mệnh đi thuận địa chi
Tý / NgọMệnh0 bước
Sửu / MùiPhúc Đức2 bước
Dần / ThânQuan Lộc4 bước
Mão / DậuThiên Di6 bước
Thìn / TuấtTài Bạch8 bước
Tỵ / HợiPhu Thê10 bước

“Không bước” nghĩa là cùng ô Mệnh. “Hai bước” nghĩa là đi qua hai khoảng giữa các địa chi liên tiếp, không tính ô xuất phát là bước thứ nhất. Chiều thuận ở đây là Tý → Sửu → Dần → Mão…; đừng suy từ hướng kim đồng hồ của một hình lá số vì cách vẽ có thể khác nhau.

Chỉ biết chi giờ vẫn đủ tra nhóm trong bảng, nhưng chưa đủ xác định ô địa chi: phần đó còn phụ thuộc tháng sinh dùng để an Mệnh và Thân. Nếu giờ sinh chưa chắc, hãy giữ các khả năng tương ứng thay vì chọn giờ theo lời luận nghe giống bản thân. Hai người cùng Thân cư Quan Lộc không vì vậy mà có cùng giờ, cùng bố cục sao hoặc cùng cuộc đời.

Sổ mở trang trống với dải đánh dấu màu đỏ, sách bọc vải và bút chì trên bàn cạnh cửa sổ
Dải đánh dấu giúp hình dung một vị trí được ghi thêm trên khung đã có; bảng và ví dụ bên dưới mới là dữ liệu để tra Thân cư.

Vì sao mười hai giờ chỉ tạo sáu tên cung Thân cư?

Mệnh được đếm nghịch theo giờ, còn Thân được đếm thuận từ cùng một mốc tháng. Khi giờ tăng một chi, khoảng cách giữa hai vị trí tăng hai bước; sau sáu lần, khoảng cách quay lại điểm đầu trên vòng mười hai ô. Vì vậy chỉ có sáu khoảng cách chẵn, tương ứng sáu tên cung trong bảng.

Phép an trong Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, quyển hai, mục an Thân Mệnh lấy Dần làm tháng Giêng rồi đếm thuận đến tháng sinh. Từ ô tháng ấy lấy giờ Tý làm mốc; đếm nghịch đến giờ sinh để an Mệnh, đếm thuận để an Thân. Mục an mười hai cung tiếp đó sắp tên cung nghịch từ Mệnh qua Huynh Đệ, Phu Thê, Tử Tức, Tài Bạch, Tật Ách, Thiên Di, Nô Bộc, Quan Lộc, Điền Trạch, Phúc Đức và Phụ Mẫu. Hai chiều đếm phải được giữ nhất quán.

Bài này dùng tháng âm lịch thường và chi giờ đã xác định. Nguồn cổ có đoạn riêng về tháng nhuận; cách xử lý tháng nhuận, ranh ngày và quy đổi giờ cần được kiểm tra theo phương pháp của công cụ đang dùng. Không lấy ví dụ tháng thường ở đây thay cho một quy ước tháng nhuận chưa xác nhận. Cũng không đổi thẳng tháng dương lịch thành số tháng để an.

Thử với tháng Bảy thường, giờ Mão

Khởi Dần tháng Giêng, đến tháng Bảy ở Thân; từ đó nghịch ba bước giờ được Mệnh tại Tỵ, thuận ba bước giờ được Thân tại Hợi. Từ Mệnh Tỵ đi thuận sáu bước đến Hợi, đúng nhóm Mão trong bảng: Thân cư Thiên Di.

Mốc tháng
Dần tháng Giêng → Mão tháng Hai → Thìn tháng Ba → Tỵ tháng Tư → Ngọ tháng Năm → Mùi tháng Sáu → Thân tháng Bảy.
An Mệnh và Thân
Từ Thân: giờ Tý tại Thân, nghịch đến Mão qua Mùi, Ngọ rồi Tỵ; thuận đến Mão qua Dậu, Tuất rồi Hợi.
Đọc cung chức năng
Mệnh Tỵ thì Thiên Di Hợi. Dấu Thân ở Hợi nằm cùng cung Thiên Di, nên đọc là Thân cư Thiên Di.

Đây là khung ví dụ giả định chỉ có tháng thường và chi giờ, không phải lá số của một người. Bài chưa an chính tinh, phụ tinh, Cục hay đại vận và không điền thêm năm, ngày sinh. Muốn học cách đối chiếu vị trí cung trước khi luận sao, có thể xem tam phương tứ chính; đó là quan hệ giữa các ô, khác với phép đặt dấu Thân.

“Thân ở địa chi Thân” có phải “Thân cư Mệnh”?

Không. Địa chi Thân là tên một vị trí trong vòng Tý–Hợi; dấu Thân là ký hiệu được an theo tháng và giờ; Mệnh là tên một cung chức năng. Dấu Thân có thể ở địa chi Thân, nhưng muốn biết Thân cư gì vẫn phải đọc tên cung trên chính ô ấy.

Tháng Giêng, giờ Tý: Mệnh tại Dần và Thân cũng tại Dần. Đọc là Thân Mệnh đồng cung, dù ô địa chi là Dần.

Tháng Giêng, giờ Ngọ: Mệnh tại Thân và Thân cũng tại Thân. Vẫn là Thân Mệnh đồng cung, lần này ô địa chi mang tên Thân.

Hai ví dụ cho cùng tên Thân cư nhưng khác địa chi. Chúng cũng cho thấy không thể suy ngược duy nhất giờ sinh từ nhãn “Thân Mệnh đồng cung”: riêng bảng đã có cả Tý lẫn Ngọ. Đừng đồng nhất chữ “Thân” trong chi giờ, ô địa chi và dấu Thân chỉ vì chúng viết giống nhau.

Thêm một tên dễ lẫn là Thân chủ. Đây là một mục khác trong hệ thuật ngữ và trên một số giao diện lá số; nó không phải cách gọi tắt của cung có dấu Thân. Khi chụp ảnh để hỏi về Thân cư, cần thấy dấu Thân, tên cung và chi của ô đó, thay vì chỉ chụp dòng Thân chủ ở phần thông tin giữa lá số.

Nếu một bản hiển thị báo Thân cư Điền Trạch, Huynh Đệ, Tử Tức, Tật Ách, Nô Bộc hoặc Phụ Mẫu, kết quả ấy không khớp cách an đang trình bày. Trước hết kiểm tra mình có đọc nhầm dấu, tên cung hay lớp vận không, rồi đối chiếu quy ước của nơi lập lá số. Chưa cần sửa giờ sinh hoặc tự nhận một “ngoại lệ đặc biệt”.

Có phải sau 30 tuổi Mệnh hết tác dụng và Thân tiếp quản?

Không nên hiểu như một công tắc tuổi tác. Cách nói Mệnh thiên về nền tảng, Thân thiên về sự dấn thân hay hậu vận là lối diễn giải truyền thống; không chứng minh rằng đúng sinh nhật 30 tuổi, một phần lá số ngừng tác dụng và phần kia điều khiển cuộc sống. Phép đặt dấu Thân cũng không làm thay đổi vị trí khi người ấy bước qua tuổi 30.

Vì vậy, hãy tách hai lớp: quy tắc an cho vị trí có thể kiểm tra, còn lời luận là cách gán nghĩa trong một truyền thống. Biết Thân cư Phu Thê không cho phép kết luận người ấy phải kết hôn, hôn nhân quyết định mọi thành bại hoặc người bạn đời phải chịu trách nhiệm cho vận số. Thân cư Quan Lộc không đo được năng lực quản lý; Thân cư Tài Bạch không phải chỉ báo dòng tiền tương lai.

Với Phúc Đức, không suy ra một người được hưởng hay phải trả nghiệp của dòng họ; với Thiên Di, không ép quyết định đi xa; với Thân Mệnh đồng cung, không đóng khung là tự lập hoặc cố chấp. Nếu muốn dùng những tên cung làm câu hỏi tự suy ngẫm, hãy quay về điều đang xảy ra: công việc cần kỹ năng nào, quan hệ cần trao đổi gì, khoản chi nào đã có dữ liệu. Đó là những việc cần được kiểm tra trong thực tế.

Ngay trong cách đọc Tử Vi, một dấu Thân riêng lẻ không chứa toàn bộ bố cục Mệnh, sao và các cung liên hệ. Bài này giúp tra đúng nhãn và tránh lỗi đếm; không xác nhận khả năng dự báo số phận, không dùng nhãn Thân cư để chọn người, chọn nghề hay ra quyết định vay vốn. Nếu chỉ cần lập khung để học, công cụ lập lá số là nơi nhập dữ liệu; đọc kỹ quy ước và kết quả của công cụ trước khi so với ví dụ tháng thường ở đây.

Cập nhật: