Ất Mùi nữ mạng: hiểu nhãn Sửu–Mùi trước khi xem tuổi hợp kỵ
Nữ thuộc năm âm Ất Mùi, gồm các chu kỳ 1955 và 2015 trong khoảng 1900–2026, có nạp âm Sa Trung Kim. Khi xem hợp kỵ, Sửu–Mùi là một cặp xung trong cách phân loại địa chi truyền thống; nhãn đó chưa nói hai người sẽ sống với nhau thế nào. Các tuổi Kỷ Sửu, Tân Sửu, Quý Sửu, Đinh Sửu cùng chữ Sửu nhưng khác nạp âm. Cần giữ riêng hai lớp thông tin này trước khi đọc một lời khuyên chọn bạn đời hoặc người hợp tác.

Cùng tuổi Sửu có phải cùng nạp âm?
Không. Kỷ Sửu thuộc Tích Lịch Hỏa, Tân Sửu thuộc Bích Thượng Thổ, Quý Sửu thuộc Tang Đố Mộc, Đinh Sửu thuộc Giản Hạ Thủy. Còn Ất Sửu thuộc Hải Trung Kim. Chữ Sửu là phần địa chi chung; ghép với thiên can khác nhau sẽ cho các cặp năm và tên nạp âm khác nhau.
| Can Chi | Năm âm ví dụ | Nạp âm |
|---|---|---|
| Kỷ Sửu | 1949 | Tích Lịch Hỏa |
| Tân Sửu | 1961 | Bích Thượng Thổ |
| Quý Sửu | 1973 | Tang Đố Mộc |
| Ất Sửu | 1985 | Hải Trung Kim |
| Đinh Sửu | 1997 | Giản Hạ Thủy |
Cột năm ghi ví dụ của năm âm, chưa áp cho mọi ngày dương của năm có cùng số. Các tên nạp âm được đối chiếu với Tam Mệnh Thông Hội, quyển một, các mục của Giáp Tý–Ất Sửu, Giáp Ngọ–Ất Mùi, Mậu Tý–Kỷ Sửu, Nhâm Tý–Quý Sửu, Canh Tý–Tân Sửu và Bính Tý–Đinh Sửu. Ở đây dùng bảng tên truyền thống; không chuyển những lời cát hung trong cổ thư thành dự báo đã được chứng minh.
Nếu một danh sách chỉ gọi bốn tuổi Kỷ, Tân, Quý, Đinh Sửu là “đại kỵ”, hãy hỏi tiêu chí nào đã loại Ất Sửu ra. Xét riêng địa chi thì cả năm dòng đều có cùng quan hệ Sửu–Mùi. Nếu tác giả dùng thêm tiêu chí khác, cần nêu tiêu chí và cách kết hợp, thay vì dùng chung chữ “mệnh” cho mọi trường.
Cùng hành Kim có làm nhãn xung Sửu–Mùi biến mất?
Không trong phép tra địa chi: thay nạp âm không đổi tên chi Sửu hoặc Mùi. Với Ất Sửu và Ất Mùi, cả hai nạp âm đều thuộc Kim, nhưng hai chi vẫn là cặp Sửu–Mùi. Hai nhận xét đang đọc hai thuộc tính khác nhau, không phải hai kết quả để lấy một kết quả “tốt” trừ một kết quả “xấu”.
- Ất Mùi — Ất Sửu
- Nạp âm Sa Trung Kim — Hải Trung Kim: cùng hành Kim, khác tên nạp âm. Phần địa chi là Mùi — Sửu.
- Ất Mùi — Quý Sửu
- Nạp âm Sa Trung Kim — Tang Đố Mộc: khác hành Kim và Mộc. Phần địa chi vẫn là Mùi — Sửu, không đổi vì dòng nạp âm đã khác.
Tài liệu nền tảng của tác giả iztro, mục sáu cặp xung địa chi liệt kê Sửu (丑) và Mùi (未) là một cặp. Bài này viện dẫn cách phân loại ấy, không dùng nó làm bằng chứng rằng người tuổi Sửu thiếu trách nhiệm, người nữ Ất Mùi phải nhường nhịn hay một cuộc hôn nhân sẽ đổ vỡ.
Nạp âm năm cũng chưa phải cung phi Bát Trạch hoặc cung Phu Thê trên lá số. Một kết quả “cùng Kim” chưa tự điền các trường còn lại. Trang đang đọc không có ngày giờ sinh của hai người, không an hai lá số và không cộng các nhãn thành phần trăm hợp nhau.
Đang cân nhắc một người tuổi Sửu, cần kiểm lời hợp kỵ thế nào?
Kiểm lại năm âm của người ấy, tên phép đang so và điều kết luận thực sự dựa vào. Sau đó giữ thông tin về người thật ở phần riêng: một cặp địa chi chưa cho biết họ có tôn trọng thỏa thuận, muốn kết hôn hay đồng ý hợp tác với mình không.

- Giữ đúng lịch của ngày sinh. Ví dụ giả định, 01/01/1998 dương còn thuộc năm âm Đinh Sửu theo UTC+7 của website; 28/01/1998 đã sang Mậu Dần. Cùng số năm dương 1998 chưa đủ để điền chữ Sửu. Dùng bộ chọn bài theo ngày sinh để kiểm nhóm năm trước; nếu chỉ có ngày âm, đối chiếu ở công cụ đổi ngày âm dương.
- Ghi nguyên tiêu chí của lời luận. “Xung địa chi”, “nạp âm năm” và “cung Phu Thê” là những mục khác nhau. Khi thiếu dữ liệu hoặc không có cách tính, ghi là chưa kiểm được; không tự thêm điểm, đổi tên tiêu chí hoặc lấy câu nghe thuận tai làm kết quả cuối.
- Tách nhãn năm khỏi điều hai người đã trao đổi. Ghi riêng mong muốn, việc đã đồng ý và việc còn bất đồng. Tên tuổi không xác nhận lời hứa, năng lực, động cơ hay sự đồng thuận của người kia. Không dùng chữ “đại kỵ” để thay cuộc trao đổi này hoặc ép một người nhận vai trò chăm lo, nhường nhịn.
Nếu câu hỏi chuyển sang tháng và giờ sinh ảnh hưởng vị trí cung thế nào, bài Ất Dậu nữ mạng có ba cấu hình tháng thường cùng giờ Tý để kiểm phép an Mệnh và Phu Thê. Đó là bài kiểm vị trí cung, cũng không xác nhận ai là bạn đời phù hợp. Với câu “giờ chẵn, ngày chẵn, tháng lẻ”, bài Ất Mùi nam mạng giải thích sự khác nhau giữa lịch âm, lịch dương và khoảng giờ địa chi.

Đổi màu khăn, đặt tượng dê, thêm cây hay nước không làm chữ Sửu biến thành một chi khác trong phép tra. Cảnh vườn có thể được ngắm vì sở thích; bài không có cơ sở để yêu cầu mua đồ hoặc bố trí nhà nhằm xóa một nhãn hợp kỵ. Điều giữ được sau khi đối chiếu là tên đúng của từng trường và giới hạn của lời luận, thay vì một bản kết tội con người theo năm sinh.






