Đại Vận – Tiểu Vận: đọc khoảng tuổi và đếm đúng cung
Đại Vận, còn gọi là Đại Hạn, là khoảng tuổi mười năm; Tiểu Vận hay Tiểu Hạn là cung được đếm cho một tuổi. Muốn tra đúng, hãy tách ba việc: đọc số tuổi khởi Đại Hạn theo Cục, chọn chiều đi của Đại Hạn theo âm dương và nam nữ, rồi đếm Tiểu Hạn theo chi năm sinh. Vị trí Lưu Niên Thái Tuế lại lấy theo chi của năm đang xét.
Bài này hướng dẫn đọc nhãn tuổi và kiểm tra phép đếm. Việc hai hạn gặp cùng cung không tự cho biết một sự kiện sẽ xảy ra, cũng không tạo ra tỷ lệ tác động “70%–15%–15%”.
Số 13 trên cung là tuổi khởi hạn, không phải năm 2013
Ở cách ghi phổ biến bắt đầu Đại Hạn tại cung Mệnh, số của Ngũ Hành Cục là tuổi khởi khoảng thứ nhất. Một nhãn 13 của Mộc Tam Cục nghĩa là khoảng 13–22 tuổi; tuổi 22 vẫn trong khoảng ấy, tuổi 23 mới sang khoảng kế tiếp. Đọc cả đầu và cuối khoảng sẽ tránh nhầm ở năm chuyển hạn.
| Cục | Khoảng đầu | Tiếp theo | Khoảng thứ ba |
|---|---|---|---|
| Thủy Nhị Cục | 2–11 | 12–21 | 22–31 |
| Mộc Tam Cục | 3–12 | 13–22 | 23–32 |
| Kim Tứ Cục | 4–13 | 14–23 | 24–33 |
| Thổ Ngũ Cục | 5–14 | 15–24 | 25–34 |
| Hỏa Lục Cục | 6–15 | 16–25 | 26–35 |
Đây là quy ước tuổi của hệ thống đang đọc, thường dùng tuổi mụ theo năm âm; không lấy số tuổi dương vừa qua sinh nhật rồi ghép vào bảng. Trước tuổi khởi khoảng đầu, bảng này chưa gán Đại Hạn; không có nghĩa là trẻ không có đời sống hay không được chăm sóc. Cục cũng không phải nạp âm năm sinh: hãy lấy nhãn Cục trên lá số đã lập đúng dữ liệu.
Quy tắc khởi tuổi và khoảng mười năm được trình bày trong bài học an Đại Hạn của StarLin. Bảng khoảng tuổi phía trên được triển khai từ quy tắc đó để tiện đối chiếu.

Chiều Đại Hạn phải xét cả can năm sinh và nam nữ
Dương nam, âm nữ đi thuận; âm nam, dương nữ đi nghịch. Can dương gồm Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm; can âm gồm Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý. Chữ âm dương ở đây lấy từ can năm sinh theo lịch đang dùng, không suy từ tính cách. Vì vậy, nói chung “nam thuận, nữ nghịch” cho Đại Hạn sẽ bỏ mất một điều kiện.
Thuận là theo thứ tự Tý → Sửu → Dần → Mão → Thìn → Tỵ → Ngọ → Mùi → Thân → Dậu → Tuất → Hợi → Tý; nghịch là đi ngược dãy này. Hãy đọc chi in ở cung, không suy chiều từ ảnh minh họa xoay hoặc lật.
Ví dụ giả định: Mộc Tam Cục, Mệnh tại Dần, can năm sinh là Bính. Với dương nam: Dần 3–12 → Mão 13–22 → Thìn 23–32. Với dương nữ: Dần 3–12 → Sửu 13–22 → Tý 23–32. Đổi chiều không làm đổi độ dài mười tuổi của mỗi khoảng.
Cần ghi rõ quy ước cung khởi hạn khi đối chiếu sách. Bài này dùng cách bắt đầu tại Mệnh, như hướng dẫn hiện đại của StarLin và tài liệu an lá số iztro. Trong mục an Đại Hạn của Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, quyển II, cung khởi được mô tả là cung trước hoặc sau Mệnh, tương ứng Phụ Mẫu hoặc Huynh Đệ. Không nên gộp hai cách thành một rồi cho rằng mọi lá số phải có nhãn giống nhau. Khi so hai bản, đối chiếu cung khởi, chiều và tuổi khởi trước.
Nếu cần dựng lá số để xem các nhãn, mở công cụ lập lá số Tử Vi và kiểm tra dữ liệu sinh. Trường hợp chưa chắc ngày âm hay dương, hãy đối chiếu ở đổi ngày âm dương trước khi dùng can chi năm sinh.
Tiểu Hạn: tìm cung tuổi 1 rồi đi thêm tuổi trừ một bước
Quyển II của Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư nêu cách an Tiểu Hạn theo bốn nhóm chi năm sinh: nam đếm thuận, nữ đếm nghịch, không tách âm dương. Đây là quy tắc riêng của Tiểu Hạn, khác điều kiện can âm dương của Đại Hạn vừa đọc.
| Chi năm sinh | Cung tuổi 1 |
|---|---|
| Dần, Ngọ, Tuất | Thìn |
| Thân, Tý, Thìn | Tuất |
| Tỵ, Dậu, Sửu | Mùi |
| Hợi, Mão, Mùi | Sửu |
Sau khi có cung tuổi 1, đi thêm tuổi cần xét − 1 bước. Có thể bỏ các vòng đủ 12 cung. Không đi đủ số tuổi từ cung khởi, vì tuổi 1 đã nằm ở cung khởi và chưa cần bước nào.
Ví dụ chỉ để kiểm tra phép đếm: người thuộc chi Thìn, xét tuổi mụ 27. Cung tuổi 1 là Tuất; 27 − 1 = 26 bước, bỏ hai vòng còn 2 bước. Nam: Tuất → Hợi → Tý, nên Tiểu Hạn tại Tý. Nữ: Tuất → Dậu → Thân, nên tại Thân. Ví dụ này chưa có đủ dữ liệu để an sao hay luận một người thật.
Lưu Niên Thái Tuế lấy vị trí theo chi của năm đang xét. Nếu năm âm đang xét mang chi Ngọ, vị trí ấy là Ngọ; không dùng lại chi Thìn của năm sinh. “Lưu niên” còn được dùng rộng hơn để chỉ các lớp xem theo năm, nên cần hỏi người lập lá số đang gọi lớp nào là Tiểu Hạn, lớp nào là Thái Tuế. Không mặc định Tiểu Hạn chỉ là tâm lý và Thái Tuế chỉ là ngoại cảnh.

Tiểu Hạn lặp sau 12 tuổi, nhưng Đại Hạn có còn cùng cung không?
Tiểu Hạn đi hết 12 cung rồi trở lại. Đại Hạn chuyển sau mỗi khoảng mười tuổi. Hai nhịp khác nhau, nên câu “cứ 12 năm Đại Hạn và Tiểu Hạn lại trùng cung” không đúng như một quy tắc chung.
Tiếp tục ví dụ giả định dương nam, chi Thìn, Mộc Tam Cục, Mệnh Dần theo cách khởi tại Mệnh. Ta có thể kiểm tra trực tiếp hai tuổi cách nhau 12 năm:
| Tuổi | Đại Hạn | Tiểu Hạn | Trùng cung? |
|---|---|---|---|
| 31 | 23–32 tại Thìn | 30 bước từ Tuất: Thìn | Có |
| 43 | 43–52 tại Ngọ | 42 bước từ Tuất: Thìn | Không |
Tuổi 31 trùng ở Thìn chỉ là kết quả của phép an cung trong giả định này. Nó không chứng minh tác động tăng gấp đôi, cũng không cho phép dự báo tai nạn, giàu có hay thay đổi nghề nghiệp. Giao vận trước hết là đổi khoảng đang đọc; không có cơ sở từ phép đếm này để gán hai năm cuối hạn hoặc năm đầu hạn mới thành thời điểm buộc phải đổi việc.
Khi ghi lại một lần tra, ghi đủ loại tuổi, Cục, can chi năm sinh, nam nữ theo phép an, cung khởi và quy ước đang dùng. Nếu kết quả khác lá số trên màn hình, hãy tìm điều kiện khác nhau trước khi đọc tốt xấu. Các khoản chi, hiến máu hoặc mua đồ “ứng hạn” không phải bước của phép tính; bài này không gắn chúng với việc làm thay đổi hạn.
Đọc tiếp cách phân biệt cung Mệnh và các lớp thông tin để tránh lấy tên một cung làm kết luận cho cả đời người; với câu hỏi công việc, bài cung Quan Lộc giúp tách cách gọi trong lá số khỏi dữ kiện nghề nghiệp thực tế.
Nguồn đối chiếu: Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, quyển II — an Đại Hạn và Tiểu Hạn; StarLin — hướng dẫn an hạn; iztro — quy ước an lá số. Các ví dụ là giả định tính cung, không phải hồ sơ tư vấn hay bằng chứng về khả năng dự báo.
Cập nhật:






