Thiên Đức, Nguyệt Đức quý nhân: bảng tra tháng trong Bát Tự
Trong Bát Tự, Thiên Đức và Nguyệt Đức là hai tên thần sát được tra từ chi tháng sinh. Kết quả cho biết ký hiệu nào được gọi tên theo một quy ước; chưa đủ để kết luận người đó được bảo hộ, có đức hạnh hơn người hoặc chắc chắn tránh được tai họa. Hai tên này cũng không được đem an theo cách của các sao cùng tên trong Tử Vi Đẩu Số.
Theo tháng sinh, Thiên Đức và Nguyệt Đức được ghi thế nào?
Bảng giữ tên quẻ khi bản in dùng tên quẻ. Trên màn hình nhỏ, vuốt ngang hoặc chọn bảng rồi dùng phím mũi tên để xem đủ ba cột.
| Chi tháng | Thiên Đức | Nguyệt Đức |
|---|---|---|
| Dần 寅 | Đinh 丁 — can | Bính 丙 |
| Mão 卯 | Khôn 坤; chú giải: Thân 申 — chi | Giáp 甲 |
| Thìn 辰 | Nhâm 壬 — can | Nhâm 壬 |
| Tỵ 巳 | Tân 辛 — can | Canh 庚 |
| Ngọ 午 | Càn 乾 — tên quẻ | Bính 丙 |
| Mùi 未 | Giáp 甲 — can | Giáp 甲 |
| Thân 申 | Quý 癸 — can | Nhâm 壬 |
| Dậu 酉 | Dần 寅 — chi | Canh 庚 |
| Tuất 戌 | Bính 丙 — can; xem chú thích dị bản | Bính 丙 |
| Hợi 亥 | Ất 乙 — can | Giáp 甲 |
| Tý 子 | Tốn 巽 — tên quẻ | Nhâm 壬 |
| Sửu 丑 | Canh 庚 — can | Canh 庚 |
Quy ước của bảng: cột Thiên Đức không chỉ gồm thiên can. Bản in dùng Khôn, Càn và Tốn ở một số tháng; phần chú giải nêu tháng Mão gặp Thân. Bài giữ Càn và Tốn tại hai ô tương ứng, không tự đổi chúng thành một địa chi rồi coi đó là nguyên văn. Cột Nguyệt Đức chỉ gồm bốn can Giáp, Bính, Canh, Nhâm.
Lưu ý dị bản ở tháng Tuất: bản sách quét, trang in 24 (trang PDF 43) ghi Bính; bản chép điện tử của mục Luận Thiên Đức quý nhân ghi Giáp và có chú thích dị văn Bính. Vì vậy, cần ghi nguồn đang theo khi hai bảng cho kết quả khác nhau. Bảng ở bài này theo chữ Bính trong bản in đã dẫn.

Cần lấy tháng nào trước khi tra?
- Lấy chi tháng từ tứ trụ đã lập: dùng chi Dần, Mão, Thìn… của trụ tháng, không dùng chi năm sinh hoặc Nhật chủ để chọn hàng.
- Kiểm mốc tiết khí: tháng trong cách lập Bát Tự cần được xác định theo quy ước tiết khí của lịch hoặc công cụ đang dùng. Đừng thay bằng số tháng âm lịch rồi mặc nhiên cho là trùng.
- Nếu sinh gần lúc chuyển tiết: kiểm lại giờ, nơi sinh và múi giờ trước khi chốt chi tháng. Khi chi tháng còn chưa chắc, giữ kết quả tra ở trạng thái chưa xác định.
Mục Luận Tiết Hậu Ca xếp Lập Xuân, Vũ Thủy vào tháng đầu, Kinh Trập, Xuân Phân vào tháng kế tiếp… Đó là lý do cần đọc bối cảnh tiết khí, thay vì xem cụm “tháng hai” trong sách như mọi ngày của tháng hai âm trên lịch dân dụng. Bài này không tự đổi một ngày sinh chưa đủ dữ kiện thành chi tháng.

Gặp ký hiệu ở đâu thì nên ghi kết quả ra sao?
Hãy ghi rõ ký hiệu nằm ở can hay chi, thuộc trụ năm, tháng, ngày hay giờ. Đoạn Luận Nguyệt Đức quý nhân nhấn mạnh việc gặp ở ngày; mục Luận Thiên Nguyệt Đức trong Tam Mệnh Thông Hội, quyển ba cũng nêu điều kiện xét ở ngày. Quét được một chữ ở bất kỳ trụ nào và nhận định về vị trí ngày là hai việc cần tách ra.
Ví dụ giả định để kiểm cách tra, không gắn với ngày sinh dương lịch:
- Bộ A: năm Giáp Tý · tháng Đinh Mão · ngày Giáp Thân · giờ Giáp Tý
- Chi tháng là Mão. Theo chú giải Khôn ứng với Thân, chi ngày Thân khớp ký hiệu Thiên Đức; can ngày Giáp khớp Nguyệt Đức của tháng Mão. Kết quả tra nêu được cả loại chữ và vị trí ở ngày, không cần suy ra nghề nghiệp hay hôn nhân.
- Bộ B: năm Giáp Tý · tháng Đinh Mão · ngày Bính Tuất · giờ Mậu Tý
- Vẫn chọn hàng Mão, nhưng không có chi Thân trong bốn trụ. Chữ Giáp xuất hiện ở can năm, còn can ngày là Bính. Nếu một phần mềm gắn nhãn Nguyệt Đức vì quét được Giáp, hãy xem nó đang báo vị trí năm; không chép thành “Nguyệt Đức ở Nhật trụ”.
Cả hai bộ chỉ phục vụ kiểm phép đối chiếu. Không phải vì đã viết đủ tám chữ mà có thể coi đây là lá số của người thật hay bằng chứng về một sự kiện đời người. Nếu chưa phân biệt can và chi, đọc lại Can Chi trong lá số.
Thiên Đức hợp và Nguyệt Đức hợp có phải cùng nhãn gốc?
Không. Tên có chữ hợp nói đến quan hệ hợp với ký hiệu được lấy làm Đức, không phải chỉ một cách viết khác. Ví dụ, tháng Dần lấy Nguyệt Đức là Bính, còn Luận Nguyệt Đức hợp ghi Tân. Chỉ thấy Tân không có nghĩa đã thấy Bính.
Cùng mục trong Tam Mệnh Thông Hội nêu ví dụ Thiên Đức hợp ở tháng đầu là Đinh với Nhâm, tháng ba là Nhâm với Đinh. Khi nguồn dùng tên quẻ, cần giữ đúng quy ước của nguồn ấy; không tự ghép một bảng thiên can với một bảng quy đổi địa chi khác rồi gọi là thống nhất. Quan hệ hợp cũng không tự chứng minh một kết quả hóa khí hay “giải hết” thần sát khác.

Những nhãn này cho phép kết luận đến đâu?
Chúng cho phép mô tả một phép tra trong hệ thống mệnh lý truyền thống. Không thể chỉ từ nhãn Thiên Đức, Nguyệt Đức hoặc Đức hợp mà đánh giá đạo đức, năng lực làm việc, sức khỏe, độ an toàn hay giá trị của một người.
Các câu cổ về “hóa hung” nên được đọc như quan niệm của văn bản, không phải bảo đảm tránh tai nạn, bệnh tật hoặc rắc rối pháp lý. Cũng không nên dùng lời luận “vượng phu ích tử” để giao trách nhiệm thành bại của gia đình cho phụ nữ. Không có phép tra nào trong bài buộc người đọc mua vật phẩm, làm lễ hay trả phí để “kích hoạt” nhãn đã tra.

Khi học tiếp Bát Tự, hãy giữ riêng tháng dùng để tra thần sát và Nhật chủ dùng để xác định quan hệ Thập Thần. Biết tên một thần sát không thay cho việc hiểu cấu trúc tứ trụ và quy tắc của nguồn đang theo.
Cập nhật:






