Quý Hợi nam mạng: vì sao Tuần và Triệt cùng ở Tý–Sửu?

Theo hai phép an năm sinh đang đối chiếu, nam Quý Hợi có cả Tuần và Triệt tại cặp địa chi Tý–Sửu. Tuần lấy theo tuần Giáp Dần chứa Quý Hợi, còn Triệt lấy theo can Quý. Hai kết quả trùng nhau ở trường hợp này; không cần dời một nhãn sang nơi khác chỉ để chúng khác vị trí. Các chu kỳ Quý Hợi 1923 và 1983 cùng cho cách tra ấy, nhưng chưa xác định Tý–Sửu là cung Mệnh hay cung chức năng nào của một người.

Hai phép tra năm sinh cho trường hợp Quý Hợi
Nhãn đang traCăn cứCặp địa chi
TuầnQuý Hợi trong tuần Giáp DầnTý–Sửu
TriệtCan Quý, nhóm Mậu–QuýTý–Sửu

Mục an Tuần Trung Không Vong của Toàn Thư quyển hai ghi cặp Không Vong của tuần Giáp Dần tại Tý–Sửu. Mục an Triệt Lộ Không Vong trong cùng quyển đặt nhóm can Mậu–Quý tại Tý–Sửu. Bảng giữ hai dòng vì mỗi dòng trả lời một phép tra, không phải vì có hai bản sao của cùng một quy tắc.

Người đàn ông áo xanh đứng cạnh phiến đá khắc lợn rừng, đèn lồng và tre bên sông dưới trăng, xa có núi và thuyền buồm
Lợn rừng gợi chi Hợi; cặp Tuần–Triệt được tra theo tên tuần và can năm trong văn bản.

Vì sao Quý Hợi thuộc tuần Giáp Dần?

Vì Quý Hợi là cặp thứ mười của chuỗi bắt đầu ở Giáp Dần. Với năm 1983, điểm đầu là 1974 Giáp Dần; với năm 1923, điểm đầu là 1914 Giáp Dần. Cả hai khoảng đều gồm mười tên năm, kết thúc ở Quý Hợi.

Chỉ xét địa chi trong mười cặp ấy, ta đi qua Dần → Mão → Thìn → Tỵ → Ngọ → Mùi → Thân → Dậu → Tuất → Hợi. Tý và Sửu chưa xuất hiện; đó là cặp thiếu của tuần này. “Không” ở bước đối chiếu tên không phải lệnh xóa hai ô Tý, Sửu khỏi khung mười hai địa chi của lá số.

Các phép trừ 1983 − 9 = 1974 và 1923 − 9 = 1914 ở đây chỉ để tìm năm đầu chuỗi. Chúng không phải số tuổi bắt đầu Đại Hạn, số năm phải chờ hoặc khoảng thời gian được gán cho một sự kiện đời sống.

Người đàn ông áo xanh cầm bút trên sổ mở bên bàn tính, tiền đồng, la bàn, bát nước và tượng lợn rừng trong phòng nhìn ra sông núi
Ghi riêng Tuần theo tên tuần và Triệt theo can, dù hai dòng cho cùng một cặp địa chi.

Trùng cặp Tý–Sửu có cần bỏ bớt một nhãn không?

Không trong bản ghi kết quả của hai phép an trên. Giữ “Tuần: Tý–Sửu, tuần Giáp Dần” và “Triệt: Tý–Sửu, can Quý” thành hai dòng có căn cứ; không tự dời hoặc xóa một dòng để tạo khác biệt.

Sự trùng này không làm hai phép tra trở thành một. Chẳng hạn, năm Nhâm Tuất 1982 cũng nằm trong tuần Giáp Dần, nên theo phép Tuần vẫn là Tý–Sửu; nhưng can Nhâm thuộc nhóm Đinh–Nhâm, theo phép Triệt lại cho Dần–Mão. Không lấy cặp Tuần thay cho cặp Triệt khi đổi sang một năm khác.

Ở ví dụ Đinh Hợi với hai cặp khác nhau, Tuần tại Ngọ–Mùi, Triệt tại Dần–Mão. Có thể đặt ba trường hợp cạnh nhau để kiểm đầu vào của mỗi phép; không suy một công thức “Tuần luôn trùng Triệt” từ riêng Quý Hợi.

Sân ven suối lúc chiều có bồn sen nước chảy từ tre, bộ trà, bàn tính, la bàn trên vải xanh và phiến đá khắc lợn rừng
Sân suối với bồn sen, trà và phiến đá khắc lợn rừng.

Việc hai nhãn cùng cặp cũng chưa đo được “gấp đôi lực cản”, hai lần mất tiền hoặc hai lần cứu giải. Bảng chỉ ghi tọa độ địa chi theo hai quy tắc truyền thống. Chưa có khung cung cá nhân thì không tự gọi Tý là Mệnh, Sửu là Tài Bạch; chưa có căn cứ sự việc thì không gán tuổi khó, nghề hợp hay bệnh tật.

Quý Hợi 1923 và 1983 cùng nạp âm Đại Hải Thủy, tên được ghép với Nhâm Tuất–Quý Hợi trong bài ca nạp âm của cùng quyển Toàn Thư. Tên “nước biển lớn” không chọn hộ tuần Giáp Dần, không dời Triệt và không xác nhận người nam có trực giác thị trường hoặc duyên tài lộc.

Hai ngày sinh nam giả định 01/07/1923 và 01/07/1983 mở nhóm Quý Hợi ở bộ chọn bài theo ngày sinh, theo phép xác định năm âm UTC+7 hiện tại. Bộ chọn không nhận giờ để an cung sao riêng. Hướng dẫn đọc Tử Vi trọn đời giúp xác định dữ liệu còn thiếu trước khi chuyển sang một lá số có giờ sinh.

Giải Mã Tử Vi · Nội dung cập nhật ngày . Ngày sinh là ví dụ giả định. Bài kiểm tên tuần, can và hai cặp địa chi theo bản nguồn đang dẫn; chưa khảo chứng mọi truyền bản hoặc dùng vị trí Tuần–Triệt để dự báo kết quả đời sống.