Nhâm Tuất nữ mạng: tra Cô Quả theo Dần–Ngọ–Tuất có đúng?

Không theo phép an Cô Thần–Quả Tú đang đối chiếu. Nữ thuộc năm Nhâm Tuất chọn hàng Thân–Dậu–Tuất, được Cô Thần tại Hợi và Quả Tú tại Mùi. Nếu gom Dần–Ngọ–Tuất thành một hàng chỉ vì đó là bộ tam hợp quen thuộc, kết quả sẽ sai bảng: ba chi ấy nằm ở ba hàng khác nhau của phép an Cô Quả. Nhánh Nữ không tự xóa Cô Thần hoặc chỉ giữ Quả Tú.

Ba chi Dần, Ngọ, Tuất khi tra riêng trong bảng Cô Thần–Quả Tú
Chi năm sinhCô ThầnQuả Tú
DầnTỵSửu
NgọThânThìn
Tuất
hàng cần cho bài này
HợiMùi

Mục an Cô Thần Quả Tú trong An Tinh Quyết trên NCC chia các chi thành bốn nhóm liên tiếp: Dần–Mão–Thìn; Tỵ–Ngọ–Mùi; Thân–Dậu–Tuất; Hợi–Tý–Sửu. Vì vậy hàng Tuất được lấy từ nhóm thứ ba. Cột Cô Thần đi trước, Quả Tú đi sau; không đảo Hợi và Mùi chỉ vì người đọc chọn Nữ.

Người phụ nữ áo xanh đứng cạnh tượng chó và bồn nước trên sân đá nhìn ra vịnh lúc bình minh, phía trên có thông và tre
Tượng chó gợi Tuất; hàng tra sao cần được chọn theo đúng phép an trong văn bản.

Vì sao nhóm Dần–Ngọ–Tuất lại xuất hiện trong một bảng sao khác?

Vì từng phép an có cách nhóm riêng. Chẳng hạn, mục an Hàm Trì của cùng nguồn NCC dùng Dần–Ngọ–Tuất để đặt sao ở Mão; đó là phép tra Đào Hoa/Hàm Trì, không phải phép an Cô Thần–Quả Tú của bảng trên.

Có thể kiểm sự khác biệt ngay với Tuất: theo phép Cô Quả, cặp cần ghi là Hợi–Mùi; theo phép Hàm Trì vừa dẫn, vị trí là Mão. Mão không trở thành vị trí của Quả Tú, và cặp Hợi–Mùi cũng không phải hai vị trí Đào Hoa. Tên sao, tên phép tra và địa chi kết quả cần đi cùng nhau.

Nếu dùng hàng của Dần thay cho Tuất, sẽ ghi nhầm Cô Thần Tỵ và Quả Tú Sửu. Nếu lấy hàng Ngọ thay vào, lại thành Thân và Thìn. Bảng so ba chi ở đầu bài giúp thấy lỗi chọn hàng ấy; nó không tạo thêm một phép phối tam hợp hoặc một bộ sao mới cho người Nhâm Tuất.

Người phụ nữ áo xanh cầm bút bên sổ mở, cạnh bàn tính, tiền đồng, la bàn, bát nước và tượng chó bên cửa sông
Ghi tên phép tra cạnh kết quả để không dùng nhầm hàng của một bảng khác.

Mục Cô Quả này lấy chi năm làm dữ kiện, không có bước đổi cặp theo nam/nữ hoặc giờ sinh. Vì thế nữ Nhâm Tuất vẫn tra cả hai sao, không dùng câu “nữ kỵ Quả” như lệnh bỏ Cô Thần khỏi lá số. Bài đang kiểm phép an của nguồn vừa dẫn, chưa xác nhận mọi công cụ đều dùng đúng cùng bảng.

Với hai ngày sinh nữ giả định 01/07/1922 và 01/07/1982, bộ đổi năm âm UTC+7 hiện tại đều xác định Nhâm Tuất. Cặp Cô Quả vừa tra không đổi khi lặp lại chi Tuất sau sáu mươi năm. Cùng cặp sao không có nghĩa là hai người có cùng tình trạng hôn nhân, quan hệ hoặc sự kiện cuộc đời.

Bài Cô Thần, Quả Tú có bảng đủ mười hai chi và phân biệt địa chi với tên cung chức năng. Hợi và Mùi trong bài này chưa tự được gọi là Mệnh hay Phu Thê. Muốn kiểm lời “Quả Tú tọa Phu Thê”, cần chỉ ra cung Phu Thê trên đúng khung lá số, chứ không đổi hàng tra sao cho khớp một lời luận.

Sân ven hồ lúc chiều có bồn sen đá, tre, hoa trắng, ấm chén, la bàn trên vải xanh và phiến đá khắc chó
Bồn sen và bàn trà trong sân ven hồ.

Nhâm Tuất 1922 và 1982 cùng nạp âm Đại Hải Thủy, được ghép với Nhâm Tuất–Quý Hợi trong bài ca nạp âm của Toàn Thư quyển hai. Tên “nước biển lớn” không đổi nhóm Thân–Dậu–Tuất thành một nhóm hành Thủy khác. Nó cũng không chứng minh người nữ nhiều trực giác, phải gánh gia đình hoặc có một mốc tuổi khó khăn.

Bộ chọn bài theo ngày sinh mở nhóm Nhâm Tuất nữ cho hai ngày giả định trên, không trả một lá số có giờ sinh và cung chức năng. Hướng dẫn đọc Tử Vi trọn đời giúp xác định phần dữ liệu còn thiếu. Có thể dừng ở kiểm tên và vị trí sao; không từ chữ Cô hay Quả mà kết luận một người sẽ cô độc hoặc hôn nhân đổ vỡ.

Giải Mã Tử Vi · Nội dung cập nhật ngày . Ngày sinh là ví dụ giả định. Bài đối chiếu hai phép nhóm địa chi trong bản An Tinh Quyết đang dẫn, chưa khảo chứng mọi truyền bản hoặc dùng vị trí sao để dự báo quan hệ cá nhân.