Kỷ Sửu nam mạng: cùng nhóm tam hợp có phải Can cũng sinh?
Nam thuộc năm âm Kỷ Sửu 1949 hoặc 2009 mang nạp âm Tích Lịch Hỏa. Khi so với Ất Dậu, Dậu và Sửu cùng thuộc nhóm tam hợp Tỵ–Dậu–Sửu; điều ấy không làm Ất Mộc sinh Kỷ Thổ. Theo vòng sinh khắc cơ bản, Mộc khắc Thổ. Cần ghi riêng quan hệ Can, nhóm Chi và nạp âm, thay vì gom các lớp vào một lời kết “đại cát”.
| Lớp đang so | Dữ kiện của hai năm | Quan hệ ghi được |
|---|---|---|
| Thiên can | Kỷ: Thổ; Ất: Mộc | Mộc khắc Thổ; không ghi Ất Mộc sinh Kỷ Thổ. |
| Địa chi | Sửu và Dậu | Hai thành viên nhóm Tỵ–Dậu–Sửu; cặp đang so chưa có chi Tỵ. |
| Nạp âm năm | Kỷ Sửu: Tích Lịch Hỏa; Ất Dậu: Tuyền Trung Thủy | Tra theo từng cặp Can Chi; không lấy tên nhóm tam hợp để đổi thành mệnh Kim. |
Phần luận thiên can và địa chi trong Tam Mệnh Thông Hội quyển hai ghi Ất thuộc âm Mộc, Kỷ thuộc âm Thổ; phần ngũ hành cũng nêu Mộc khắc Thổ. Đó là căn cứ kiểm lại dòng quan hệ, không phải thang đo mức hòa hợp của hai người.

Sai ở chữ “sinh”, không phải ở tên năm. Kỷ Sửu vẫn là Kỷ Sửu, Ất Dậu vẫn là Ất Dậu. Nếu chỉ sửa câu thành “Kỷ Thổ sinh Ất Mộc” thì vẫn chưa đúng vòng đang xét. Trong quan hệ này, cần giữ cả hai hành và chiều Mộc khắc Thổ; không đảo thứ tự tên để cố tạo một câu tương sinh.
Chữ “khắc” ở dòng Can cũng không cho phép kết luận người Ất Dậu sẽ gây hại cho người Kỷ Sửu. Bảng đang đối chiếu ký hiệu của một hệ quy ước. Muốn đánh giá một cuộc hợp tác, cần biết công việc, năng lực, cam kết và hành vi cụ thể; hai chữ Can chưa cung cấp dữ kiện ấy.
Nạp âm phải tra bằng cả Can và Chi. Bài nạp âm ở Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư quyển hai đặt Giáp Thân–Ất Dậu ở Tuyền Trung Thủy, Mậu Tý–Kỷ Sửu ở Tích Lịch Hỏa. Hành của tên nạp âm không thay hành của can Ất hoặc can Kỷ trong dòng so Can ở trên.
Vì vậy, không lấy Hỏa của Kỷ Sửu để đổi can Kỷ thành Hỏa, rồi dùng Hỏa sinh Thổ cho một phép so vốn đang hỏi Ất với Kỷ. Cũng không dùng Thủy của Tuyền Trung Thủy làm hành của can Ất. Một nhãn đúng ở lớp nạp âm có thể thành dữ kiện sai khi bị chuyển sang lớp Can.

Còn thiếu chi Tỵ thì đọc chữ “tam hợp” thế nào?
Với riêng cặp Dậu–Sửu, chỉ nên ghi hai chi cùng nhóm Tỵ–Dậu–Sửu; chưa thể ghi đã đủ ba chi. Thêm một người tuổi Tỵ vào nhóm cộng tác cũng không tự tạo thành một lá số có ba chi ấy.
Đoạn luận Sửu trong Tam Mệnh Thông Hội quyển hai nói Sửu gặp Tỵ, Dậu và nhắc Kim cục. Cần giữ phạm vi của điều kiện đang đọc. Năm sinh của ba người là ba dữ kiện từ ba hồ sơ, khác với các trụ trong một bản Tứ Trụ; không ghép chúng rồi tuyên bố một người đã “hợp hóa Kim”.
Ngay tên nhóm Kim cũng không đổi Kỷ Sửu thành một năm có nạp âm Kim. Đây là hai cách phân loại khác nhau: một bên nhóm địa chi, một bên tên nạp âm của cặp năm. Chọn nhánh Nam trong danh mục không bổ sung chi Tỵ đang thiếu và không thay đổi cách phân loại ấy.
Ba dòng tra chưa tạo được điểm 9,5/10. Muốn công bố một điểm số, cần nêu dữ kiện đầu vào, công thức, cách xử lý các lớp khác nhau và cơ sở đánh giá. Bài chưa có những căn cứ đó nên không gắn số “đại cát” cho Kỷ Sửu–Ất Dậu. Việc sửa chữ sinh thành khắc cũng không có nghĩa đổi điểm cao thành điểm thấp hoặc đưa ra quyết định cưới hỏi thay người đọc.

Hai ngày sinh giả định nam 01/07/1949 và 01/07/2009 cùng mở bài Kỷ Sửu trong bộ chọn bài theo ngày sinh theo phép đổi UTC+7 hiện tại. Bộ chọn xác định nhóm năm và nhánh bài, không chấm một cặp hợp tác. Nếu đang cần lá số riêng, hướng dẫn đọc Tử Vi trọn đời giúp xác định phần dữ liệu phải bổ sung.







