Canh Thìn nữ mạng: tra Lộc Tồn và Thiên Mã từ hai đầu vào

Với nữ thuộc năm âm Canh Thìn, phép an đang đối chiếu lấy can Canh để đặt Lộc Tồn tại Thân, còn lấy chi Thìn để đặt Thiên Mã tại Dần. Hai sao dùng hai phần khác nhau của tên năm; không lấy riêng chữ Thìn để an cả hai. Các chu kỳ 1940 và 2000 cùng Canh Thìn, nạp âm Bạch Lạp Kim; các nhãn ấy cho phép tra những mục cụ thể dưới đây, chưa lập đủ lá số hoặc xác nhận một cuộc đời chung.

Can của năm sinh: Canh
Lộc Tồn tại ô địa chi Thân.
Chi của năm sinh: Thìn
Thiên Mã tại ô địa chi Dần, theo nhóm Thân–Tý–Thìn.

Mục an Thiên Mã và mục an Lộc Tồn trong Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư quyển hai đặt hai quy tắc cạnh nhau: Thiên Mã theo nhóm chi năm, Lộc Tồn theo can. Hai bước tra này không dùng giới tính để dời Lộc Tồn hay Thiên Mã sang một ô khác. Các bước khác có thể có đầu vào riêng; không suy từ hai mục này rằng mọi phần của lá số đều bỏ qua giới tính, tháng hoặc giờ.

Người phụ nữ áo màu ngà đứng bên hồ sen và bàn đá đặt la bàn, phía sau là sông núi và mây hình rồng
Rồng gợi chi Thìn; vị trí Lộc Tồn và Thiên Mã được tra ở hai dòng văn bản, không nằm trong cảnh.

Đã biết sao ở Thân và Dần thì biết tên cung chưa?

Chưa. Thân và Dần ở đây là hai ô địa chi; tên cung chức năng của mỗi ô còn phụ thuộc khung cung được đặt từ Mệnh. Giữ nguyên Lộc Tồn tại Thân và Thiên Mã tại Dần, nhưng đổi giả định vị trí Mệnh, hai sao có thể đổi tên cung đang chứa chúng.

Hai khung Mệnh giả định để đọc tên cung — không gán cho ngày sinh 1940 hay 2000
Giả định ô MệnhLộc Tồn vẫn tại ThânThiên Mã vẫn tại Dần
Mệnh tại DầnÔ Thân mang tên Thiên Di.Ô Dần mang tên Mệnh.
Mệnh tại ThânÔ Thân mang tên Mệnh.Ô Dần mang tên Thiên Di.

Trong thứ tự mười hai cung của bản Toàn Thư vừa dẫn, Thiên Di cách Mệnh sáu bước theo chiều nghịch. Dần và Thân đối nhau trên vòng mười hai địa chi, nên hai khung trên đổi chỗ Mệnh–Di mà không đổi tọa độ hai sao đang tra. Chúng là hai giả định riêng để kiểm cách đọc, chưa có tháng, giờ để xác nhận khung nào cho một người, cũng chưa có bộ chính tinh hoặc vận.

Vì thế, câu “Thiên Mã tại Dần” không được tự đổi thành “Thiên Mã tại Thiên Di”. Nó có thể ở Mệnh trong khung đầu, ở Di trong khung sau. Cũng không đổi “Lộc Tồn tại Thân” thành “Lộc Tồn ở cung Thân”: chữ Thân trong dòng ấy là địa chi, không phải dấu Thân cư được an theo tháng và giờ.

Người phụ nữ cầm bút bên sổ mở, trên bàn có bàn tính, ấn đá xanh, tượng rồng, đồng hồ và chén trà
Ghi riêng tên sao, ô địa chi và tên cung giúp giữ đúng từng loại thông tin khi đối chiếu.

Hai sao có cùng ô không? Theo hai tọa độ vừa tra thì không: Lộc Tồn ở Thân, Thiên Mã ở Dần, là hai ô đối nhau. Đối cung và đồng cung phải được ghi khác nhau. Nếu một đoạn luận nhắc “Lộc Mã”, cần đọc điều kiện của đoạn ấy: Lộc Tồn hay Hóa Lộc, sao nằm đâu và quan hệ nào đang xét; chỉ thấy đủ hai tên chưa xác nhận một cách cục.

Bài Thiên Mã trong Tử Vi trình bày đủ bốn nhóm chi, phân biệt đồng cung với đối cung và giữ lớp bản mệnh riêng với lớp lưu. Các vị trí trong bài này tra theo năm sinh Canh Thìn; không lấy một Thiên Mã lưu theo năm đang mở để thay vào dòng sinh niên. Bài chưa an một bản lưu năm cho người đọc.

Biết hai sao theo năm không có nghĩa đã biết toàn bộ mạng cung–sao. Ngược lại, cũng không cần nói năm sinh hoàn toàn không tra được gì: hai dòng đầu đã nêu đúng phần tra được và căn cứ dùng. Điều còn thiếu phải được giữ cùng nhãn, thay vì điền lời “có lộc nhờ đi xa”, “hợp kinh doanh” hoặc “nữ mạng giỏi giữ tiền” để lấp khoảng trống.

Sân đá có hồ sen tròn, trúc, chuông gió bạc, cây hoa và đèn đá, xa là núi có hình đầu rồng
Cảnh sân là phần trang trí; không dùng chuông gió, nước hoặc hình rồng để suy sao ở cung nào.

Ví dụ giả định nữ sinh 01/07/1940 và 01/07/2000 đều mở nhóm Canh Thìn qua bộ chọn bài theo ngày sinh. Hai lần mở chỉ xác nhận nhánh năm âm và nữ của danh mục, không chọn hộ một trong hai khung Mệnh ở bảng. Nạp âm Bạch Lạp Kim cũng không làm bằng chứng về nghề, bệnh hoặc một tuổi hạn cố định. Khi cần mệnh bàn riêng, giữ ngày giờ thật và xem hướng dẫn phân biệt bài tuổi với lá số cá nhân trước khi tiếp tục.

Giải Mã Tử Vi · Nội dung cập nhật ngày . Bài đối chiếu hai phép an sao theo năm và hai khung Mệnh giả định; chưa lập đầy đủ lá số, định cung thực tế hoặc dự báo đời sống của người nữ Canh Thìn.