Tứ Hóa Lộc Quyền Khoa Kỵ: đọc sao, cung và lớp đang xét
Tứ Hóa là bốn nhãn Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Hóa Kỵ gắn với những sao được xác định theo can trong phép an đang dùng. Muốn đọc một nhãn trên lá số, cần biết sao nào nhận Hóa, nằm ở cung nào và thuộc lớp năm sinh hay lớp đang xét theo thời gian. Chỉ thấy chữ “Lộc” hoặc “Kỵ” chưa đủ để suy ra một khoản tiền, chức vụ, kỳ thi hay biến cố.
- Hóa Lộc
- Trong ngôn ngữ cổ học, thường gắn với lộc và thuận lợi; không đồng nghĩa một khoản thu đã có.
- Hóa Quyền
- Gắn với quyền và sức chi phối; không xác nhận người đó đang có chức vụ hoặc quyền quyết định ngoài đời.
- Hóa Khoa
- Gắn với khoa danh, văn học và sự ghi nhận; không phải điểm số hoặc kết quả thi.
- Hóa Kỵ
- Gắn với vướng mắc, bất lợi trong cách luận truyền thống; không là chẩn đoán bệnh hoặc bằng chứng một tai họa sẽ xảy ra.
Các mục về bốn Hóa trong bản chép Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, quyển I trên Wikisource cho biết cách dùng thuật ngữ cổ học. Đây không phải bằng chứng các lời đoán trong sách đúng với người đọc.
Can Giáp: tên sao và nhãn Hóa phải đi cùng nhau
Với can Giáp trong quy tắc đang đối chiếu, Liêm Trinh nhận Hóa Lộc, Phá Quân nhận Hóa Quyền, Vũ Khúc nhận Hóa Khoa và Thái Dương nhận Hóa Kỵ. Đây là phép gắn nhãn cho sao; chưa cho biết bốn sao đang ở cung nào trong lá số riêng.
| Sao gốc | Nhãn đi kèm |
|---|---|
| Liêm Trinh | Hóa Lộc |
| Phá Quân | Hóa Quyền |
| Vũ Khúc | Hóa Khoa |
| Thái Dương | Hóa Kỵ |
Mục An Lộc Quyền Khoa Kỵ Tứ Hóa quyết trong bản chép Tử Vi Đẩu Số Tiệp Lãm trên Tianji nêu trực tiếp bốn cặp của can Giáp. Chẳng hạn, “Thái Dương Hóa Kỵ” vẫn gồm tên sao Thái Dương và trạng thái Hóa Kỵ, không phải bỏ tên sao để chỉ đọc một chữ Kỵ.
Nếu đang tra sinh niên, lấy can năm sinh đã xác định theo lịch của lá số. Với người sinh gần Tết, không chỉ nhìn chữ số cuối của năm dương rồi tự gán can năm âm. Bảng trên bắt đầu từ điều kiện can đã là Giáp; nó không tự đổi lịch hay lập đủ lá số từ một năm dương.
Một dòng “Thái Dương Hóa Kỵ tại Quan Lộc” nói được tới đâu?
Dòng đó mô tả một sao mang Hóa ở một cung; còn phải biết lớp đang xem và can dùng để an trước khi đối chiếu. Tên Quan Lộc chỉ đặt phần đọc vào chủ đề công việc theo hệ thống Tử Vi, không tự xác nhận một sự kiện nghề nghiệp.
Bản chép giả định để tập đọc: “Can năm sinh: Giáp. Thái Dương tại Quan Lộc. Hóa Kỵ: lớp năm sinh.”
Đọc được: can Giáp khớp cặp Thái Dương–Hóa Kỵ trong bảng trên; cung được ghi là Quan Lộc; lớp được ghi là sinh niên. Chưa có dữ liệu để nói năm nào đổi việc, có mất chức hay ai trong cơ quan gây trở ngại. Đây chỉ là một mẩu ghi chú giả định, không phải lá số đủ dữ liệu của một người thật.
Nếu muốn kiểm lại trên bản lá số đang cầm, tìm đúng ô Quan Lộc và đúng tên Thái Dương, rồi xem nhãn Hóa thuộc lớp nào trong chú giải. Nếu không tìm thấy hoặc bảng an dùng khác, ghi lại điểm khác để hỏi người lập; đừng đổi tên sao, ghép nhãn từ bản khác hoặc tự thêm một mốc năm cho khớp lời luận.
Cùng chữ Kỵ nhưng khác lớp: đừng gộp vào một nhãn
Ghi riêng can đang dùng, lớp Hóa và thời điểm được chọn cho mỗi lần đọc. Can năm sinh và can của năm đang xét có thể khác nhau. Mục an Hóa của bản Tiệp Lãm vừa dẫn, chẳng hạn, cho Thái Dương Hóa Kỵ ở can Giáp nhưng Thái Âm Hóa Kỵ ở can Ất; đổi can không có nghĩa nhãn của lớp năm sinh đã bị xóa.
- Nếu màn hình ghi sinh niên: đối chiếu với can năm sinh được xác định trên lá số; không tự lấy can năm hiện tại thay vào.
- Nếu đang bật lớp theo năm: đọc chú giải để biết năm nào được chọn và can nào được dùng cho lớp ấy. Tên sao lặp hoặc nhiều nhãn cùng hiện không tự chứng minh tác động tăng gấp đôi.
- Nếu sách hoặc phần mềm dùng can cung, phi hóa hay tự hóa: cần biết quy tắc của chính hệ đang đọc. Bảng can Giáp ở trên chưa đủ để suy ra cung phát, cung nhận hoặc mọi đường phi hóa.
Đại Hạn, Tiểu Hạn và vị trí Lưu Niên Thái Tuế cũng cần gọi đúng lớp; một cung tuổi không tự cho biết can dùng để an Hóa. Bài đọc khoảng tuổi Đại Vận và đếm cung Tiểu Vận giúp tách những nhãn thời gian ấy. Không lấy việc hai lớp cùng nhắc một cung làm xác suất xảy ra biến cố.
Hai bản lá số khác Hóa: kiểm điểm nào đang khác trước?
So can đầu vào, lớp đang bật và bảng an của từng bản trước khi so lời luận. Cùng một tên Hóa nhưng lấy từ những điều kiện khác nhau thì chưa phải hai phép tính đang mâu thuẫn.
Ngay các bản chép cổ cũng cần đối chiếu: câu can Nhâm trong mục an Tứ Hóa của bản Toàn Thư trên Wikisource ghi chữ “Phủ”, còn bản Tiệp Lãm ở trên ghi “Tả” tại vị trí Hóa Khoa. Bài không tự gộp hai văn bản thành một bảng duy nhất hoặc lấy ví dụ can Giáp để chứng nhận mọi hàng của một bảng khác.
Có thể ghi cạnh từng bản: “can gì — lấy từ năm sinh/năm đang xét/hệ can cung — bảng nào — sao gì — Hóa gì — cung nào”. Khi thiếu một mục, hỏi lại đúng mục đó. Một câu trả lời rõ điều kiện giúp đối chiếu tốt hơn lời khẳng định “bản này mạnh hơn” hoặc “bản kia sai vì không hợp trải nghiệm”.
Sau khi đọc đúng nhãn, vẫn phải tách phép an với lời dự báo. Hóa Lộc không thay số liệu thu nhập; Hóa Quyền không thay quyền hạn được giao; Hóa Khoa không thay kết quả học tập; Hóa Kỵ không xác nhận lỗi của người khác. Có thể dùng thuật ngữ để đặt câu hỏi tự suy ngẫm, nhưng điều xảy ra ngoài đời cần bằng chứng riêng.
Nội dung: Giải Mã Tử Vi. Ví dụ chỉ để đối chiếu tên sao, nhãn Hóa và lớp thông tin. Bài không lập lá số đầy đủ, xác nhận công dụng dự báo hoặc chứng thực một trường phái từ ảnh trang trí.
Cập nhật:






