Tam hợp cung trong Tử Vi: tra ba cung và phân biệt với Ngũ Hành Cục

Tam hợp cung là nhóm ba vị trí cách nhau bốn bước trên vòng mười hai địa chi. Chọn một cung, hai cung tam hợp của nó nằm ở bước thứ tư và thứ tám; bản cung cùng hai cung ấy thành một nhóm. Với Mệnh, nhóm chức năng là Mệnh – Tài Bạch – Quan Lộc. Nhóm tam hợp địa chi mang tên Thủy, Hỏa, Kim hoặc Mộc không đồng nghĩa Ngũ Hành Cục dùng an Tử Vi; không lấy nhóm này để chấm trí tuệ, chọn nghề hay đo tỷ lệ năng lượng của một người.

Đếm hai cung tam hợp từ bản cung thế nào?

Đặt bản cung ở bước không, đi bốn bước để tới cung thứ hai và thêm bốn bước để tới cung thứ ba. Mỗi bước sang một địa chi kế tiếp; không tính bản cung là bước một. Khi đi thêm bốn bước từ cung thứ ba, quay lại đúng bản cung.

Ví dụ từ Dần: Dần → Mão → Thìn → Tỵ → Ngọ là bốn bước, có ba ô chen giữa Dần và Ngọ. Thêm bốn bước từ Ngọ tới Tuất, rồi bốn bước từ Tuất về Dần. Vì vậy Dần – Ngọ – Tuất thuộc cùng một nhóm, còn Thân là cung đối diện Dần, không phải một trong hai cung tam hợp.

Tìm nhóm có địa chi của bản cung; hai địa chi còn lại là hai cung tam hợp
Ba địa chi trong nhómTên hành của nhóm trong cách gọi truyền thống
Thân – Tý – ThìnThủy.
Dần – Ngọ – TuấtHỏa.
Tỵ – Dậu – SửuKim.
Hợi – Mão – MùiMộc.

Tam Mệnh Thông Hội, quyển hai có mục luận chi nguyên tam hợp, bàn những nhóm địa chi này trong hệ thống thuật số. Bài dùng tên nhóm để đối chiếu; không mang các điều kiện hóa cục hoặc lời luận Tứ Trụ trong sách sang Tử Vi như thể là cùng phép đọc.

Khung lá số thường vẽ hình chữ nhật, vì vậy đường nối ba ô không cần là tam giác đều trên màn hình. “120°” trong một hình chia vòng đều chỉ mô tả cách vẽ quy ước; không chứng minh khoảng cách thật của ba ngôi sao ngoài trời. Khi giấy bị xoay hoặc công cụ đổi cách trình bày, đọc nhãn địa chi thay vì đo góc đường nối.

Giấy có khung ô trống cạnh sách bìa vải, ba bút chì và chén trà trên bàn gỗ, logo Giải Mã Tử Vi ở góc phải trên
Khung giấy trống là cảnh học và ghi chép. Địa chi, tên cung và Cục của ví dụ được nêu trong phần chữ; không suy kết quả từ các ô chưa có nhãn.

Nhóm địa chi và nhóm tên cung chức năng khớp nhau ra sao?

Địa chi là tọa độ trên vòng; tên Mệnh, Tài Bạch, Quan Lộc là chức năng được an trên các tọa độ ấy. Cùng nhóm Mệnh – Tài – Quan nhưng Mệnh ở vị trí khác thì bộ địa chi đổi theo. Không mặc định Mệnh luôn ở Dần hoặc người sinh năm Dần có Mệnh ở Dần.

Trong Toàn Thư, quyển hai, mười hai cung chức năng được đặt theo thứ tự từ Mệnh rồi đi nghịch vòng địa chi. Với thứ tự đó, có thể kiểm bốn nhóm chức năng dưới đây mà chưa cần gán đặc điểm nghề nghiệp hoặc tính cách cho các ô.

Mệnh – Tài Bạch – Quan Lộc
Ba cung cùng nhóm. Nếu Mệnh ở Dần thì Tài Bạch ở Tuất, Quan Lộc ở Ngọ.
Huynh Đệ – Tật Ách – Điền Trạch
Trong cùng khung Mệnh Dần: Huynh Đệ ở Sửu, Tật Ách ở Dậu, Điền Trạch ở Tỵ.
Phu Thê – Thiên Di – Phúc Đức
Trong khung này: Phu Thê ở Tý, Thiên Di ở Thân, Phúc Đức ở Thìn.
Tử Tức – Nô Bộc – Phụ Mẫu
Trong khung này: Tử Tức ở Hợi, Nô Bộc ở Mùi, Phụ Mẫu ở Mão.

Bốn nhóm chia hết mười hai cung trong một khung; không có một cung nào cần đưa vào hai nhóm để “bổ khuyết”. Đổi Mệnh sang Tý thì Mệnh – Tài – Quan trở thành Tý – Thân – Thìn. Nhóm chức năng giữ tên, nhóm địa chi thay đổi. Điều này khác việc lấy địa chi năm sinh để nói ba tuổi hợp nhau.

Đây là ví dụ khung cung, chưa là lá số cá nhân có đầy đủ chính tinh, phụ tinh và hạn. Các tên chức năng giúp đặt chủ đề để đọc, không là chứng cứ Phúc Đức quyết định một cuộc hôn nhân hoặc Tật Ách cho biết bệnh của người đó. Bốn nhóm cũng không tạo bốn nhãn để chọn người yêu, cộng sự hoặc nghề nghiệp.

Vì sao tam hợp Dần – Ngọ – Tuất có thể đi cùng Thổ ngũ cục?

Vì hành của nhóm địa chi và Ngũ Hành Cục của lá số lấy từ hai phép xác định khác nhau. Dần – Ngọ – Tuất được gọi là nhóm Hỏa; Cục dùng an Tử Vi phải tra can chi tại cung Mệnh theo can năm và quy tắc đã chọn. Không suy Cục chỉ từ địa chi Mệnh.

Hành của nhóm tam hợp
Tra ba địa chi trong bảng phía trên. Có bốn nhóm ba vị trí, mang tên Thủy, Hỏa, Kim, Mộc.
Ngũ Hành Cục để an Tử Vi
Trong phép đang đối chiếu: Thủy nhị cục, Mộc tam cục, Kim tứ cục, Thổ ngũ cục, Hỏa lục cục. Có năm loại, gồm cả Thổ; các số là tham số của quy tắc, không là thứ hạng tốt xấu.

Quyển hai của Toàn Thư tách phần khởi can cung, nạp âm và các bảng Cục dùng tìm Tử Vi. Điều đó cho thấy chỉ biết “Mệnh ở Dần” chưa đủ để đi thẳng vào bảng Hỏa lục cục. Can năm và cách khởi can cung vẫn cần được xác định.

Ví dụ can Ất, tháng một, giờ Tý cho hai kết quả nào?

Trong phép an đang dùng, dữ kiện giả định này cho Mệnh ở Dần, tam hợp Dần – Ngọ – Tuất mang tên Hỏa, còn can chi cung Mệnh là Mậu Dần có nạp âm Thổ, dùng Thổ ngũ cục. Không có mâu thuẫn: hai nhãn đang trả lời hai câu hỏi khác nhau.

An Mệnh: tháng âm lịch một bắt đầu tại Dần; giờ Tý tính ngay ở đó, nên Mệnh ở Dần.

Khởi can cung: theo quyển hai, năm can Ất khởi Mậu tại Dần. Cung Mệnh trong ví dụ là Mậu Dần, không phải lấy can Ất ghép thẳng thành “Ất Dần”.

Tra nạp âm và Cục: Mậu Dần thuộc Thành Đầu Thổ trong bảng nạp âm đang đối chiếu; vì vậy dùng Thổ ngũ cục. Nhóm ba địa chi của Mệnh vẫn là Dần – Ngọ – Tuất.

Ví dụ chưa chọn ngày sinh để an Tử Vi, chưa xác định năm có chi nào hoặc toàn bộ sao và hạn. Can chi của cung Mệnh cũng không phải can chi năm sinh: Mậu Dần ở đây là nhãn của cung, không nói người giả định sinh năm Mậu Dần. Không đổi bài tập này thành hồ sơ người thật hoặc lời dự đoán.

Nếu hai công cụ cho Cục khác nhau, kiểm giờ, lịch, cách xử lý đầu năm hoặc tháng nhuận và quy tắc khởi cung trước. Một chênh lệch đầu vào có thể làm Mệnh đổi ô; bảng tam hợp bốn nhóm không sửa được sự khác biệt ấy. Khi muốn lập lá số, đọc đầu vào tại trang lập lá số Tử Vi; không nhập dữ liệu ước lượng rồi coi mọi vị trí là đã được xác nhận.

Sao ở cung tam hợp có trở thành sao tọa tại bản cung không?

Không. Hội chiếu là quan hệ giữa các cung; sao vẫn có vị trí riêng trong lớp lá số đang xem. Khi nói một sao tại Quan Lộc hội Mệnh, ghi cả địa chi Quan Lộc và quan hệ với Mệnh. Không chuyển tên sao sang ô Mệnh hoặc cộng thành điểm cố định.

Chẳng hạn trong khung Mệnh Dần, sao được ghi tại Ngọ thuộc Quan Lộc, một cung tam hợp của Mệnh. Sao tại Thân nằm ở Thiên Di, cung đối; sao tại Mão hoặc Sửu ở hai ô kề Mệnh, cần đọc theo quan hệ giáp nếu tài liệu sử dụng. Nhầm các ô này sẽ làm câu “có cả bộ trong tam hợp” khác với cấu trúc thực.

Ví dụ cụ thể về việc đủ sáu sao qua nhiều cung có ở Tả Hữu, Xương Khúc và Khôi Việt: đồng cung hay hội Mệnh. Cần giữ điều kiện của lời luận: một nguồn yêu cầu đồng cung không được đáp ứng chỉ vì hai sao nằm trong cùng nhóm tam hợp. Với sao lưu, ghi lớp thời gian thay vì bù vào nhóm sao gốc rồi bỏ nhãn lưu.

Tam hợp có chiếm 60–70% năng lượng, hoặc làm một cung vô chính diệu chắc chắn tốt không?

Bài không có phép đo cho các tỷ lệ ấy. Cung vô chính diệu là cung không có chính tinh tọa thủ trong lớp được xét, không đồng nghĩa không có sao hoặc tự hấp thu một phần trăm lực từ hai cung khác. Nhãn tam hợp xác định quan hệ vị trí; nó không xác nhận trí tuệ, mức an toàn, lợi nhuận hay kết quả của một đời người.

Không tạo một “tam hợp Thổ” gồm ba cung để hoàn thiện ma trận đại vận: bốn nhóm ở đây đã được xác định, còn Thổ ngũ cục là khái niệm khác. Nếu xét hạn, phải ghi cung nào đang được chọn, khoảng thời gian và hệ đọc; không đổi nhãn hành thành chiến lược vay vốn, mở rộng kinh doanh hoặc lựa chọn bạn đời.

Khi ghi chép để học, một câu đủ rõ có thể là “Mệnh Dần; tam hợp Ngọ, Tuất; đối cung Thân; Cục cần tra theo can cung Mệnh”. Các phần còn thiếu để trống và kiểm lại đúng nguồn. Đây là cách giữ quan hệ của lá số, không là công thức biến lời luận truyền thống thành kết quả có thể bảo đảm.

Giải Mã Tử Vi đối chiếu quy tắc an cung, khởi can và các bảng Cục của bản chép Toàn Thư; dùng Tam Mệnh Thông Hội để nhận diện thuật ngữ địa chi, không áp lời đoán Tứ Trụ thay cho Tử Vi. Khung cung và ví dụ can Ất trong bài được kiểm riêng theo quy tắc đã nêu. Bài không có hồ sơ cá nhân, không chấm điểm bốn nhóm hoặc chứng minh ảnh hưởng của sao lên hành vi.

Cập nhật: