Tang Môn, Bạch Hổ trong Tử Vi: tra trục đối cung và phân biệt gốc, lưu
Tang Môn và Bạch Hổ là hai tên sao trong hệ thống Tử Vi; theo phép an đang đối chiếu, Tang Môn cách vị trí Thái Tuế hai bước, Bạch Hổ cách tám bước, nên hai sao nằm ở hai cung đối nhau. “Bộ Tang Hổ” không có nghĩa hai sao cùng tọa một cung trong cùng lớp. Tên sao cũng không là kết luận người thân sẽ mất, người có sao sẽ bệnh, hung dữ hoặc mang một nghề định sẵn.
An Tang Môn và Bạch Hổ từ vị trí Thái Tuế thế nào?
Đặt Thái Tuế tại địa chi làm mốc, tính vị trí ấy là bước không; theo chiều thuận địa chi, bước hai là Tang Môn, bước tám là Bạch Hổ. Mỗi bước sang một địa chi kế tiếp. Từ Tang Môn tới Bạch Hổ luôn có sáu bước, là quan hệ đối cung; không phải hai cung tam hợp.
| Mốc Thái Tuế | Tang Môn | Bạch Hổ |
|---|---|---|
| Tý | Dần | Thân |
| Sửu | Mão | Dậu |
| Dần | Thìn | Tuất |
| Mão | Tỵ | Hợi |
| Thìn | Ngọ | Tý |
| Tỵ | Mùi | Sửu |
| Ngọ | Thân | Dần |
| Mùi | Dậu | Mão |
| Thân | Tuất | Thìn |
| Dậu | Hợi | Tỵ |
| Tuất | Tý | Ngọ |
| Hợi | Sửu | Mùi |
Bảng an theo chi năm sinh được đối chiếu với phần cơ chế an sao trên trang Tang Môn của Thầy Ưng Khiêm. Bài dùng phép an và bảng vị trí của nguồn, kiểm riêng đủ mười hai mốc; không dùng các lời luận tính cách, bệnh tật hoặc “hóa giải” như kết quả đã được chứng minh.
Có hai cách đếm dễ lẫn: Tang Môn là sao thứ ba khi tính Thái Tuế là thứ nhất, nhưng khoảng cách từ mốc là hai bước. Tương tự Bạch Hổ ở vị trí thứ chín của vòng, cách mốc tám bước. Đừng vừa tính mốc là một vừa cộng thêm hai hay tám cung, vì sẽ lệch một ô.
Trong một khung chia vòng đều, đường nối hai ô đối có thể được vẽ như đường kính. Con số 180° mô tả hình vẽ, không là khoảng cách thật của hai thiên thể hoặc lực tác động lên cơ thể. Lá số có thể vẽ vuông; hãy đọc địa chi, không đo góc của ảnh trang trí.
Bảng xác định địa chi đặt sao, chưa xác định tên cung chức năng. Chẳng hạn đầu vào chi Tý cho Tang Môn ở Dần và Bạch Hổ ở Thân, nhưng chưa có tháng, giờ và khung Mệnh thì chưa thể nói Tang Môn tọa Mệnh hay Bạch Hổ tại Tật Ách. Người sinh năm Tý cũng không mặc định Mệnh ở Tý.

Tang Hổ gốc và lưu Tang Hổ khác nhau ở dữ kiện nào?
Lớp gốc trong phép đang dùng lấy chi năm sinh đã xác định; lớp lưu niên lấy chi của năm đang xem. Tọa độ cùng tên sao có thể đổi giữa hai lớp, nên phải giữ nhãn “gốc”, “lưu” và mốc năm. Không gom tất cả nhãn có chữ Tang hoặc Hổ thành một cặp cùng lớp.
- Lớp gốc
- Ghi chi năm sinh dùng để an sao và hai địa chi đã tra. Nếu chỉ có năm dương lịch hoặc sinh gần mốc đổi năm của hệ lập lá số, cần xác nhận lại đầu vào; không tự chọn chi theo tên năm trên giấy.
- Lớp lưu niên
- Ghi chi năm xem, năm cụ thể khi có và quy ước mốc bắt đầu/kết thúc năm của tài liệu hoặc công cụ. Vị trí lưu không xóa vị trí sao gốc.
Toàn Thư, quyển hai, trong quyết an bốn phi tinh Tang Môn, Bạch Hổ, Điếu Khách, Quan Phủ, nêu mốc lưu niên Thái Tuế và an Bạch Hổ đối với Tang Môn. Đoạn này nói lớp lưu theo năm; không gọi nó là quy tắc trực tiếp cho mọi lớp gốc hoặc mọi hệ thần sát khác cùng tên.
Giả định chi năm sinh là Tý: lớp gốc có Tang Môn Dần, Bạch Hổ Thân. Đây là hai tọa độ; ví dụ chưa chọn ngày tháng giờ để đặt chúng vào các cung chức năng.
Giả định năm đang xem có chi Ngọ: lớp lưu có Tang Môn Thân, Bạch Hổ Dần. Lưu Tang Môn trùng địa chi Bạch Hổ gốc; lưu Bạch Hổ trùng địa chi Tang Môn gốc. Hai cặp trong từng lớp vẫn đối nhau.
Thấy Tang Môn và Bạch Hổ ở cùng một ô có mâu thuẫn với bảng không?
Chưa chắc: cần kiểm xem một nhãn là sao gốc, một nhãn là sao lưu hay cả hai được ghi cùng lớp. Trong ví dụ trên, ô Dần có Tang Môn gốc và Bạch Hổ lưu; đó là hai nhãn khác lớp, không phải Tang Môn và Bạch Hổ gốc đồng cung.
Nếu cả hai được công cụ ghi trong cùng lớp, xem lại quy tắc và dữ kiện của công cụ trước. Bảng với hai độ lệch hai và tám không cho đồng cung hoặc tam hợp. Chênh lệch hiển thị cần được giải thích bằng phép an thật, không lấp bằng câu “các sao hội tụ năng lượng”.
Các quan hệ tọa, đối, tam hợp và giáp cần giữ tên riêng. Phần tra tam hợp, xung chiếu và giáp cung giúp kiểm các ô liên hệ. Gọi hai sao là một bộ không tự tạo điều kiện “giáp Kình Đà” hoặc cùng thủ bản cung; muốn dùng một câu luận, phải kiểm những quan hệ mà câu đó yêu cầu.

Các chữ buồn thương, huyết quang hoặc đắc hãm có thể nói điều gì về một người?
Chúng là cách phân loại và diễn giải trong tài liệu Tử Vi, không là chẩn đoán tâm lý, dự báo tai nạn hoặc kết luận về người thân. Cần phân biệt điều kiểm được bằng phép an với lời luận của nguồn. Biết hai tọa độ không cho phép chuyển thẳng sang bệnh, sinh nở, tuổi kết hôn hay nghề nghiệp.
- Điều có thể kiểm: đầu vào chi, địa chi đặt sao, lớp gốc/lưu và quan hệ đối cung theo quy tắc đã nêu. Có thể tìm lại bằng phép đếm và bảng.
- Điều cần nguồn định nghĩa: bảng đắc/hãm, tên cách cục hoặc yêu cầu hội các sao khác. Nêu tài liệu và điều kiện đang dùng; không cho một bảng xếp loại vai trò của bằng chứng về thu nhập, nghề hoặc năng lực.
- Điều không thể kết luận từ tên sao: trầm cảm, bệnh thần kinh, hiếm muộn, phẫu thuật, sự hung dữ, người phối ngẫu hay khắc khẩu hoặc ai trong nhà sẽ qua đời.
Nếu tài liệu xét đắc hoặc hãm ở Dần, Thân, Mão, Dậu hay các địa chi khác, giữ đúng vị trí và tên bảng của tài liệu; không gộp một danh sách địa chi thành nhãn “Tứ Mộ – Tứ Sinh” rồi suy ra danh vọng. Bảng phân loại truyền thống không xác nhận một người hợp nghề y, luật hay có tài hùng biện.
Cũng không xem năm có chi trùng hoặc đối chi năm sinh là năm chắc chắn có tang chỉ vì hai lớp sao trùng ô. Sự trùng tọa độ là kết quả của quy tắc chu kỳ; nó chưa là bằng chứng có một biến cố. Những việc thăm hỏi và chăm sóc trong gia đình nên dựa vào nhu cầu thật, không dựa vào một lời dọa trên lá số.
Có nên hiến máu hoặc làm xét nghiệm để “hóa giải huyết quang” không?
Không nên lấy việc làm mất máu làm cách hóa giải tên sao. Bài không có căn cứ rằng hiến máu, cạo vôi răng, xét nghiệm hay một thủ thuật sẽ đổi hạn Tang Hổ. Việc khám, xét nghiệm và điều trị dựa vào nhu cầu sức khỏe cùng tư vấn chuyên môn.
Nếu muốn hiến máu nhân đạo, hãy tìm hiểu và làm theo quy trình của cơ sở tiếp nhận. Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương nêu bước khám, tư vấn và kiểm tra trước hiến; người tham gia cần hiểu, thoải mái và tự nguyện. Tên sao không quyết định một người đủ điều kiện hiến máu. Bài không đặt tuổi, cân nặng, lượng máu hay lịch hiến cho người đọc.
Nếu đang lo vì một lời luận, có thể trở lại phần đầu để chỉ ra điều gì thực sự đã được xác nhận: mốc chi nào, lớp nào, vị trí nào. Người đọc có quyền dừng một cuộc luận khi bị khẳng định chắc chắn về tang chế hoặc bị yêu cầu mua lễ, lấy máu, phóng sinh để tránh họa. Không có một bức ảnh, bộ sao hoặc phí dịch vụ nào trong bài bảo đảm an toàn hay tiên đoán một mất mát.
Giải Mã Tử Vi kiểm bảng mười hai mốc theo phép an được đối chiếu, giữ riêng lớp gốc và quyết an lưu niên của Toàn Thư. Ví dụ chi Tý, năm xem chi Ngọ chỉ là bài tập tọa độ, không có hồ sơ cá nhân hoặc kết luận sức khỏe. Quy trình hiến máu được dẫn để đặt việc đó đúng phạm vi y tế và tự nguyện.
Cập nhật:






