Lục thân trong Tử Vi: sáu cung và cách đọc chuyện gia đình

Trong cách phân nhóm sáu cung được dẫn dưới đây, lục thân gồm Mệnh, Phụ Mẫu, Huynh Đệ, Phu Thê, Tử Tức và Nô Bộc. Đó là nhóm nhãn trên lá số, không phải phép đếm đúng sáu người trong nhà. Khi đọc chuyện gia đình, cần giữ rõ lá số của ai, cung nào và điều kiện của câu sách; các nhãn sao chưa xác nhận tính cách hay ý định của người thân.

Lục thân gồm sáu cung nào, Phúc Đức có nằm trong nhóm không?

Mệnh, Phụ Mẫu, Huynh Đệ, Phu Thê, Tử Tức và Nô Bộc là sáu cung trong cách phân nhóm ở mục “Cung lục thân” của Tử Vi Sài Gòn. Bài dùng danh sách ấy với phạm vi của nguồn; không đổi Nô Bộc thành Phúc Đức để đủ sáu, cũng không chia mỗi sao thành một người nhà.

“Xem lục thân” và “sáu cung lục thân” không luôn là cùng một cách dùng từ. Khi một tác giả chỉ bàn cha mẹ, anh chị em, vợ chồng và con cái, họ đang chọn phạm vi quan hệ; cần đọc định nghĩa trước khi so với bảng của nguồn khác. Cùng chữ “lục thân” trong Lục Hào Nạp Giáp lại chỉ lớp nhãn từ quan hệ hành hào–hành cung quẻ, không phải sáu ô cung Tử Vi.

Phúc Đức có thể được một cách luận đưa vào phần tham chiếu; việc tham chiếu không làm nó thành Nô Bộc hoặc Mệnh. Thân cũng không phải ô thứ mười ba của vòng cung. Nếu cần phân biệt ô Mệnh với dấu Thân, xem cách an và đọc Mệnh–Thân.

Vòng tròn trên giấy cũ với các chấm sáng và nét đỏ, xanh nối quanh tâm
Tên cung cần được đọc trên bản lá số đang dùng; vòng trang trí không thay cho dữ liệu sinh và vị trí sao.

Đang bàn cha mẹ, anh chị em, bạn đời hay con cái: tìm nhãn nào?

Tìm Phụ Mẫu cho chủ đề cha mẹ, Huynh Đệ cho anh chị em, Phu Thê cho vợ chồng, Tử Tức cho con cái. Sau đó ghi tên người đứng lá số, địa chi và sao trong đúng ô. Chủ đề của cung không đổi người đứng tên lá số thành người thân đang được nhắc đến.

Phụ Mẫu · cha mẹ
Phụ Mẫu trên lá số của người con vẫn thuộc lá số người con. Khi cha và mẹ khác ý, không gom lời của họ thành một ý kiến chỉ vì cùng một tên cung. Bài Cung Phụ Mẫu hướng dẫn phân biệt sao tọa cung với sao xung chiếu.
Huynh Đệ · anh chị em
Ghi gia đình thực có ai trước khi đọc đoạn luận. Số người trong câu phú chưa là dữ liệu hộ gia đình; tên sao cũng không cho biết ai sẽ nhận phần việc chung.
Phu Thê · vợ chồng
Ô trên lá số của một người không chứa hồ sơ nhân cách độc lập của bạn đời. Một lời luận “thiếu hòa hợp” chưa xác nhận người kia phản bội, hoặc quyết định hai người nên cưới hay chia tay.
Tử Tức · con cái
Cung Tử của cha và cung Tử của mẹ là hai phần của hai lá số khác nhau. Không chọn một lá số để gán tính cách, giới tính hoặc khả năng sinh sản; xem cách giữ đúng chủ thể khi đọc cung Tử.

Trong Toàn Thư quyển II, mục an mười hai cung, thứ tự từ Mệnh đi nghịch là Huynh Đệ → Phu Thê → Tử Tức → Tài Bạch → Tật Ách → Thiên Di → Nô Bộc → Quan Lộc → Điền Trạch → Phúc Đức → Phụ Mẫu. Các mục luận của bản cổ dùng tên Huynh Đệ, Thê Thiếp, Tử Nữ, Phụ Mẫu; bài dùng cách gọi hiện nay để nhận chủ đề, không giữ mô hình thê thiếp làm lời khuyên cho đời sống hôm nay.

Ví dụ chỉ về vị trí: nếu Mệnh tại Tý thì Huynh Đệ tại Hợi, Phu Thê tại Tuất, Tử Tức tại Dậu; Phụ Mẫu tại Sửu ở phía kề còn lại của Mệnh. Địa chi này thay đổi khi Mệnh thay đổi. Đừng mặc định ô góc phải hoặc phía trên của mọi phần mềm luôn là cùng một cung.

Đọc một câu luận sao về người thân cần giữ điều kiện gì?

Giữ nguyên cung, sao và các điều kiện đồng cung, hội chiếu, trạng thái sao hoặc lớp vận mà đoạn nguồn thật sự nêu. Không giữ mỗi câu kết rồi áp cho mọi lá số có cùng một tên sao; cũng không tự thêm điều kiện nếu nguồn không ghi.

Ở đầu mục Huynh Đệ của Toàn Thư quyển II, đoạn về Tử Vi chuyển qua các nhánh có Thiên Phủ, Thiên Tướng, Phá Quân cùng cung, rồi nhánh thêm Dương, Đà, Hỏa, Linh, Không, Kiếp. Đó là nhiều trường hợp trong một đoạn cổ, không phải một lời chung chỉ từ chữ “Tử Vi”. Bài không dùng số anh em hoặc chữ hình khắc trong đoạn ấy làm dự báo cho người đọc.

  1. Ghi điều trên lá số: “Tử Vi tọa Huynh Đệ trên lá số của …; Thiên Phủ có/không ở cùng ô”. Nếu chưa có lá số, đánh dấu chưa xác định, không giả định tổ hợp.
  2. Ghi điều của nguồn: đoạn nào, tác giả hoặc bản sách nào, trường hợp nào đang được đem ra so. Sao ở cung khác chiếu về không tự trở thành sao tọa thủ trong ô.
  3. Ghi điều ngoài đời: gia đình có ai, đã xảy ra chuyện gì, ai đã xác nhận. Phần này được biết qua sự việc và người liên quan, không rút từ tên sao.

“Cung này phản ánh tâm lý của tôi” cũng là một cách diễn giải, chưa biến lá số thành phép đo tâm lý. Đổi “anh ích kỷ” thành “anh có xu hướng ích kỷ” vẫn là nhận định chưa có chứng cứ nếu chỉ dựa vào sao. Một lá số riêng của người anh cũng không tạo bằng chứng về động cơ của họ.

Biểu tượng âm dương ở giữa năm khay đặt gỗ, đá, nước, lửa và đất
Âm dương, ngũ hành thuộc ngôn ngữ của hệ luận; muốn hiểu chuyện gia đình vẫn cần nghe từng người nói về việc cụ thể.

Nếu hai anh em chưa chia được lịch thăm mẹ, nên đối chiếu lời luận ra sao?

Đối chiếu việc còn thiếu với lịch và khả năng đã được từng người xác nhận; chưa biết ý định của người kia thì ghi là chưa biết. Câu luận về Huynh Đệ không thay cho câu hỏi ai rảnh buổi nào hoặc ai đã nhận việc gì.

Tình huống giả định: Lan làm được chiều thứ Bảy; anh nói đang chờ lịch công tác và chưa nhận sáng Chủ nhật. Mẹ chưa nói mình muốn được thăm lúc nào. Lan đọc câu “anh em thiếu hòa hợp” rồi nghĩ anh đang né việc. Ví dụ được website đặt để tập đối chiếu, không có lá số, tên sao hay hồ sơ tư vấn thật.

Ba phần cần giữ riêng trước khi chốt lịch
Điều đã biếtChưa thể kết luậnCâu hỏi về việc thật
Lan rảnh chiều thứ BảyKhông suy ra mẹ muốn được thăm đúng buổi ấy.“Mẹ muốn chúng con tới buổi nào?”
Anh chưa có lịch công tác cuối cùngChưa xác nhận anh không muốn giúp.“Khi nào anh biết lịch? Buổi nào anh đã có thể nhận?”
Sáng Chủ nhật chưa có người nhậnChưa có thỏa thuận rằng Lan phải nhận nốt.“Mình còn thiếu buổi này; có thể đổi cách thu xếp nào?”

Lan có thể ghi lại phần mỗi người đã nhận và phần vẫn bỏ trống. Nếu lịch công tác đổi, sửa lịch theo thông tin mới; không đổi nghĩa câu sao để kể rằng mọi chuyện đã được dự báo. Các lần anh em phối hợp tốt cũng cần được giữ trong bản ghi, thay vì chỉ nhớ bất đồng khớp với lời luận.

Việc hỏi lại không bảo đảm hai bên thống nhất ngay. Nếu người kia chưa muốn trao đổi, có thể để phần ấy chưa chốt; không dùng lá số làm lý do buộc họ kể chuyện riêng hoặc nhận trách nhiệm. Xem cách đọc cung Huynh Đệ mà không đánh giá anh chị em khi muốn kiểm lại một đoạn nguồn.

Mô hình ngôi nhà, sách, đồng tiền và đồ dùng đặt trên mặt bàn
Lịch, phần việc và điều đã thống nhất cần được ghi rõ khi cùng thu xếp chuyện nhà.

Con một, chưa kết hôn hoặc chưa có con có phải đổi tên cung không?

Không. Các ô thuộc cấu trúc mười hai cung vẫn có trên lá số, dù hoàn cảnh hiện tại không có quan hệ tương ứng. Ghi đúng hoàn cảnh trước; không đổi Huynh Đệ thành bạn bè, Phu Thê thành một người sẽ xuất hiện, hoặc Tử Tức thành dự án để làm mọi câu luận có vẻ khớp.

Với gia đình nuôi dưỡng, gia đình ghép hoặc quan hệ được một tác giả mở rộng nghĩa, cần nói rõ đang xét ai và theo cách đọc của nguồn nào. Nô Bộc có tên riêng trong hệ cung; quan hệ bạn bè và cộng sự không tự thành anh chị em chỉ vì người hỏi là con một. Nếu chưa có quy tắc rõ, giữ phần chưa xác định thay vì dựng thêm người.

Lá số không xác nhận huyết thống, sức khỏe hay quyền lợi của ai trong nhà. Những việc đó cần thông tin phù hợp từ chính tình huống; lời cổ về “khắc” không phải căn cứ trách người con gây tai họa cho cha mẹ. Có thể tìm hiểu thuật ngữ rồi dừng ở đó, không cần kể tên, ngày sinh hoặc chuyện riêng của người thân để hoàn thành việc đọc bài.

Giải Mã Tử Vi · Rà soát 11/10/2026. Nhóm sáu cung ghi theo mục thuật ngữ được dẫn; thứ tự cung và ví dụ cách đọc điều kiện đối chiếu Toàn Thư quyển II. Tình huống Lan là ví dụ biên tập, không phải lời luận đã nghiệm chứng; bài không lập hồ sơ tâm lý cho người thân.

Cập nhật: