Lập quẻ Mai Hoa Dịch Số: công thức và ví dụ kiểm hào

Lập quẻ Mai Hoa cần chốt cách lấy số trước, tính thượng quái và hạ quái theo số dư chia 8, rồi xác định hào động theo số dư chia 6. Ví dụ ngày 15 tháng 8 âm lịch, năm Thìn, giờ Tỵ cho Chấn trên Đoài dưới, động hào 4: Lôi Trạch Quy Muội biến Địa Trạch Lâm. Phần dưới ghi đủ phép tính và sáu hào để bạn tự đối chiếu.

Người đọc ghi chép bên sách mở và đồng tiền trên bàn gỗ
Ghi cách lấy số và dữ kiện đầu vào trước khi đọc ý nghĩa của quẻ.

Dùng một bảng số quẻ nhất quán từ đầu đến cuối

Mai Hoa Dịch Số là một phương pháp lập và luận quẻ trong truyền thống Dịch học. Bài này hướng dẫn cách thao tác theo các mục lấy số trong Mai Hoa Dịch Số, không coi phép chia hay câu chuyện trong sách là bằng chứng dự báo chính xác sự kiện. Người mới nên tập kiểm cấu trúc trước khi học phần luận.

Số quẻ — ký hiệu — tượng tự nhiên truyền thống
SốQuẻTượngSốQuẻTượng
1Càn ☰Trời5Tốn ☴Gió
2Đoài ☱Đầm6Khảm ☵Nước
3Ly ☲Lửa7Cấn ☶Núi
4Chấn ☳Sấm8Khôn ☷Đất

Chia 8 dư 0 thì lấy quẻ số 8, Khôn; chia 6 dư 0 thì động hào 6. “Lấy số dư” không phải làm tròn kết quả phép chia, cộng các chữ số, hay lấy thương. Không thay bảng này bằng số Lạc Thư như Khảm 1, Ly 9: đó là hệ quy chiếu khác. Có thể đọc thêm Bát Quái Tiên Thiên và Hậu Thiên để tách bảng số khỏi phương vị.

Đối chiếu bảng số, phép chia và quy ước hào tại các mục “周易卦數”, “卦以八除”, “爻以六除” trong Mai Hoa Dịch Số, quyển một. Đây là bản chép văn bản cổ; nguồn trình bày quy ước của phương pháp.

Theo năm tháng ngày giờ: hai tổng, ba phép chia

Trong phép theo thời gian ở đây, năm dùng số địa chi, tháng và ngày dùng âm lịch, giờ dùng số địa chi của giờ. Không dùng số 2026 thay cho số chi năm; cũng không đưa tháng dương hay phút vào công thức đang trình bày.

Tý 1 · Sửu 2 · Dần 3 · Mão 4 · Thìn 5 · Tỵ 6 · Ngọ 7 · Mùi 8 · Thân 9 · Dậu 10 · Tuất 11 · Hợi 12.

Tháng âm lấy từ 1 đến 12, ngày âm lấy số của ngày. Giờ Tỵ thường là 9 giờ đến trước 11 giờ theo cách chia giờ thông dụng. Nếu thời điểm sát ranh giờ, tháng nhuận hoặc quanh ranh đổi ngày, hãy ghi rõ cách quy đổi đang theo: đừng đổi quy ước sau khi đã thấy quẻ. Mục thời gian của văn bản được dẫn không giải quyết mọi khác biệt giữa các cách xử lý ranh lịch hiện nay.

A = số chi năm + tháng âm + ngày âm.
Thượng quái: A chia 8 lấy dư, dư 0 lấy 8.

B = A + số chi giờ.
Hạ quái: B chia 8 lấy dư, dư 0 lấy 8.
Hào động: B chia 6 lấy dư, dư 0 lấy 6.

Ví dụ giả định: năm Thìn, ngày 15 tháng 8 âm, lúc 10 giờ

Đây là dữ kiện giả định để học phép tính, không phải một ngày dương lịch đã quy đổi hoặc quẻ của riêng người đọc. Năm Thìn lấy 5; tháng 8 lấy 8; ngày 15 lấy 15; 10 giờ thuộc giờ Tỵ lấy 6.

  1. A = 5 + 8 + 15 = 28. Chia 8 được 3 dư 4 → Chấn, đặt ở trên.
  2. B = 28 + 6 = 34. Chia 8 được 4 dư 2 → Đoài, đặt ở dưới.
  3. 34 chia 6 được 5 dư 4 → động hào 4.

Chấn trên Đoài dưới là Lôi Trạch Quy Muội, quẻ 54. Ghép hai quẻ đơn theo vị trí, không theo thứ tự tên xuất hiện trong một bảng tra. Có sáu hào được đánh số từ dưới lên; hào 4 là hào dưới cùng của thượng quái.

Công thức theo mục “年月日時起例” trong quyển một. Bảng dưới kiểm riêng bước đổi hào để tránh dừng ở một tên quẻ chưa được đối chiếu.

Động hào 4: Quy Muội biến Lâm như thế nào?

Trong Quy Muội, ba hào dưới tạo Đoài; ba hào trên tạo Chấn. Chỉ đổi hào động: hào 4 đang dương chuyển thành âm. Hai hào trên cùng vốn âm giữ nguyên, nên thượng quái thành Khôn; Đoài ở dưới không đổi. Kết quả là Địa Trạch Lâm, quẻ 19.

Hiển thị từ hào 6 ở trên xuống hào 1 ở dưới — đánh số theo chiều ngược lại
Vị tríQuy MuộiLâm
Hào 6Âm — đứtÂm — đứt
Hào 5Âm — đứtÂm — đứt
Hào 4 · độngDương — liềnÂm — đứt
Hào 3Âm — đứtÂm — đứt
Hào 2Dương — liềnDương — liền
Hào 1Dương — liềnDương — liền

Quẻ hỗ của ví dụ: lấy hào 2–3–4 của quẻ chủ làm hạ quái, được dương–âm–dương, tức Ly; lấy hào 3–4–5 làm thượng quái, được âm–dương–âm, tức Khảm. Khảm trên Ly dưới là Thủy Hỏa Ký Tế, quẻ 63. Lấy từ quẻ chủ trước khi đổi hào, không lấy nhầm từ quẻ biến.

Quẻ chủ, hỗ và biến là những cấu trúc khác nhau trong phép đọc này. Cách gán chúng với khởi đầu, quá trình và kết quả thuộc diễn giải truyền thống; tên quẻ biến không xác nhận một kết quả ngoài đời sẽ xảy ra. Nếu cần nhận diện hình quẻ, xem cấu trúc 64 quẻ và sáu hào.

Số vật cùng giờ là một phép khác, không ghép tùy ý vào phép thời gian

Mục “物數占例” đưa cách đếm vật: số vật để lập thượng quái, số giờ để lập hạ quái, cộng hai số để xác định hào động. Không cộng lại năm, tháng, ngày như phép vừa làm. Hai cách có thể cho quẻ khác nhau vì chúng dùng dữ kiện khác.

Mười miếng gỗ tròn chia thành hai nhóm trên bàn, cạnh đồng hồ và sổ trắng
Đếm vật và ghi giờ là hai dữ kiện của phép số vật; giờ trong ví dụ được nêu riêng trong văn bản.

Ví dụ 10 vật, giờ Tỵ lấy 6

10 chia 8 dư 2 → thượng quái Đoài. 6 chia 8 dư 6 → hạ quái Khảm. 10 + 6 = 16; 16 chia 6 dư 4 → động hào 4. Quẻ chủ là Trạch Thủy Khốn, quẻ 47. Đổi hào 4 từ dương sang âm làm Đoài trên thành Khảm; quẻ biến là Khảm Vi Thủy, quẻ 29.

Còn lấy tượng từ hiện tượng? Mục “物卦起例” nêu cách lấy tượng vật làm thượng quái, phương hướng làm hạ quái; số của hai quẻ cộng số giờ dùng để tìm hào động. Đây là bước phân loại tượng theo quy ước, cần ghi rõ vật được xếp vào quẻ nào và hướng đo theo đâu. Một tiếng động hay cảnh gặp tình cờ tự nó không chứng minh có điềm báo.

Phép theo tiếng và chữ có quy tắc riêng trong văn bản cổ. Không thể mặc nhiên đếm chữ cái tiếng Việt rồi gọi đó là phép đếm nét chữ Hán. Khi theo một biến thể hiện đại, hãy nêu tên biến thể và công thức trước, để người khác có thể tính lại cùng dữ kiện.

Đối chiếu các mục “物數占例”, “物卦起例” trong quyển một; lưu ý cộng số giờ khi tìm hào cũng được bàn ở “先天後天論” trong quyển hai.

Sau phép tính, ghi riêng câu sách và cách hiểu của mình

Trong cách phân Thể–Dụng thông dụng của Mai Hoa, quẻ đơn chứa hào động gọi là Dụng, quẻ đơn còn lại là Thể. Với ví dụ Quy Muội động hào 4, Chấn trên là Dụng, Đoài dưới là Thể. Trong bảng ngũ hành truyền thống, Chấn thuộc Mộc, Đoài thuộc Kim. Đây là quan hệ biểu tượng của một phép luận, không phải phép đo năng lực hay tính cách của người đang được hỏi.

Người phụ nữ đối chiếu hai cuốn sổ mở, tay trái đặt trên sổ và tay phải cầm bút
Tách dữ kiện, phép tính và phần diễn giải giúp lần đọc sau không bị sửa theo kết quả đã biết.

Nên lập một bản ghi có đủ: câu hỏi và bối cảnh; thời điểm và nguồn lịch; phương pháp lấy số; các số đầu vào; số dư; thượng/hạ quái; hào động; hình quẻ chủ và biến. Phần tiếp theo mới ghi đoạn sách đọc, bản dịch đang dùng và nhận xét riêng. Nếu chỉ lưu tên quẻ cùng một câu “tốt” hoặc “xấu”, sẽ khó biết sai ở tính toán hay ở diễn giải.

Chẳng hạn, trước một cuộc trao đổi công việc, quẻ có thể gợi một câu hỏi tự phản tỉnh về vai trò và kỳ vọng. Quyết định vẫn cần dựa vào nội dung trao đổi, trách nhiệm đã thống nhất và thông tin kiểm được. Không dùng một quan hệ sinh khắc để quy kết người khác, hủy hợp tác hay quyết định tiền bạc. Đạo đức luận quẻ hướng dẫn cách tách câu sách khỏi nhận định về người thật.

Sổ mở có các nét hào và mũi tên, bên sách, cốc và đồng tiền
Giữ bản ghi ban đầu để đối chiếu; hình hào của ví dụ được kiểm bằng bảng sáu hào phía trên.

Ba chỗ nên kiểm lại trước khi luận

  • Đảo trên/dưới: ghi riêng thượng quái và hạ quái, rồi mới ghép tên.
  • Đếm hào từ trên: sơ hào ở dưới; hào 4 thuộc thượng quái.
  • Trộn cách lấy số: phép thời gian và phép số vật có công thức khác nhau; không thêm bớt số để được quẻ mong muốn.

Nếu muốn học cách gieo xu, xem quy trình ghi quẻ bằng đồng xu. Trang này là bài hướng dẫn phép tính Mai Hoa, không phải giao diện gieo xu và không đưa ra kết quả cá nhân tự động.

Nguồn cho phần thuật ngữ luận: “占卜總決”, “體用總訣” và “先天後天論” trong Mai Hoa Dịch Số, quyển hai. Những mệnh đề cát hung trong nguồn được đọc như nội dung của truyền thống, không chuyển thành kết luận chắc chắn của bài.

Cập nhật: