Giáp cung là hai cung liền kề hai bên cung đang xét trên vòng 12 địa chi. Muốn nhận giáp Mệnh, tìm ô có nhãn Mệnh rồi đọc địa chi và sao ở hai ô kế bên theo vòng; không chọn hai ô chỉ vì chúng nằm bên trái, bên phải trên ảnh. Ví dụ giả định Mệnh tại Tý thì hai cung giáp ở Hợi và Sửu. Nhận được vị trí chưa có nghĩa đã biết cặp sao giáp nào, cũng chưa phải kết luận về số phận.
Khi dùng tên như “Xương Khúc giáp Mệnh”, cần có Văn Xương và Văn Khúc ở hai cung kề của chính cung Mệnh, mỗi sao ở một bên trong lớp dữ liệu đang xét. Hai sao ở cùng một ô, ở tam hợp hoặc ở hai ô bất kỳ không đáp ứng cùng quan hệ này.
Tìm hai cung kề bằng địa chi, kể cả khi ô nằm ở góc
Đọc vòng Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi rồi trở lại Tý. Hai vị trí sát trước và sát sau vị trí đang xét là hai cung kề. Ở góc khung vuông, một ô kề có thể nằm phía trên hoặc dưới; hướng màn hình không thay nhãn địa chi.
- Ô kề thứ nhất
- Hợi
- Ô đang xét
- Mệnh tại Tý
- Ô kề thứ hai
- Sửu
Ba nhãn trên là ví dụ vị trí do website dựng, chưa an sao. Nếu dùng khung vuông thường gặp, ô Tý ở cạnh dưới có Sửu về một bên và Hợi ở góc phía kia. Lá số đã xoay hay cách dàn khác vẫn cần đọc nhãn; chữ “Thân” là địa chi trong bảng, không mặc định là cung an Thân.
| Ô đang xét | Một ô kề | Ô kề còn lại |
|---|---|---|
| Tý | Hợi | Sửu |
| Sửu | Tý | Dần |
| Dần | Sửu | Mão |
| Mão | Dần | Thìn |
| Thìn | Mão | Tỵ |
| Tỵ | Thìn | Ngọ |
| Ngọ | Tỵ | Mùi |
| Mùi | Ngọ | Thân |
| Thân | Mùi | Dậu |
| Dậu | Thân | Tuất |
| Tuất | Dậu | Hợi |
| Hợi | Tuất | Tý |
Đối chiếu khung địa chi tại Tử Vi đẩu số tân biên — Vân Đằng Thái Thứ Lang, mục Định cung. Sau khi xác định vị trí, đọc tên cung chức năng và sao trên bản của mình.

Giáp cung khác tam hợp và xung chiếu ở những ô được chọn
Giáp chọn hai ô cách cung đang xét một vị trí theo mỗi phía; tam hợp chọn hai ô cách bốn và tám vị trí; xung chiếu chọn ô đối diện cách sáu vị trí. Cùng nhìn ngoài bản cung không có nghĩa cùng một quan hệ, và không dùng chúng như thang phần trăm “sức mạnh”.
- Nếu ô đang xét ở Tý: giáp là Hợi và Sửu.
- Hai ô tam hợp với Tý: Thìn và Thân.
- Ô đối diện Tý: Ngọ. Khi đọc tam phương tứ chính, giữ cả Tý, Thìn, Thân, Ngọ.
Không đưa Hợi và Sửu vào bộ bốn rồi gọi mọi ô là tam phương tứ chính. Cũng không dùng cung nhị hợp thay cho cả hai cung giáp: chẳng hạn Sửu có thể liên hệ nhị hợp với Tý, nhưng việc xét giáp Tý còn phải đọc Hợi.
Với cung Mệnh, các tên cung chức năng kề thường là Huynh Đệ và Phụ Mẫu trong cách sắp thông dụng. Điều này giúp kiểm nhãn, không đồng nghĩa mọi sao ở đó chỉ nói về anh em hay cha mẹ khi đưa vào quan hệ giáp. Nếu đang xét Quan Lộc, Tài Bạch hoặc Điền Trạch, bắt đầu lại từ địa chi của cung ấy; không mang nguyên hai ô đã chọn cho Mệnh sang.

Khi nào có thể ghi “một cặp sao giáp cung”?
Trước hết phải thấy từng sao của cặp ở một trong hai cung kề, hai sao phân bố hai bên cùng cung đang xét. Sau đó mới kiểm tên bộ và điều kiện mà tài liệu sử dụng. “Có hai cung giáp” là quan hệ vị trí luôn có; “được Xương Khúc giáp” là nhận xét cụ thể về sao, không tự xuất hiện trên mọi lá số.
Hai tình huống dưới đây do website tự dựng để thử cách đọc, không phải hồ sơ sinh thật và không khẳng định tất cả tổ hợp sao có thể an từ một bộ dữ liệu sinh.
- Nhận đúng vị trí: cung đang xét ở Tý; Văn Xương ghi ở Hợi, Văn Khúc ở Sửu. Cặp sao nằm hai bên Tý, nên có thể ghi “Xương Khúc ở hai cung giáp Tý” trong ví dụ này. Nếu ô Tý mang nhãn Mệnh thì mới thêm “giáp Mệnh”.
- Không đủ quan hệ giáp: cũng xét Tý, nhưng Văn Xương ở Hợi, Văn Khúc ở Thìn. Thìn thuộc tam hợp Tý, không phải cung kề; không ghi “Xương Khúc giáp Tý” chỉ vì nhìn thấy đủ hai tên sao trên bản.
Phần Xương, Khúc trong Tân biên dùng cách gọi giáp Mệnh. Thuật ngữ này không chứng minh trí thông minh hay bảo đảm có người giúp đỡ.
Tả Phù/Tả Phụ và Hữu Bật, Văn Xương và Văn Khúc, Kình Dương và Đà La là những cặp tên thường gặp khi đọc. Trước khi đặt tên một cách cục, kiểm sao viết tắt, tên khác và chú giải của bản đang dùng. Một sao đơn ở cung kề vẫn là dữ kiện để ghi nhận; nó chỉ không đủ để tự ghép thành một cặp đầy đủ.
“Giáp Lộc Tồn” và “Khôi Việt giáp” cần kiểm điều gì?
Kiểm sao ở cung giữa và từng sao hai bên trước khi đọc tên cách cục. Lộc Tồn là một sao, không thể lấy một sao xuất hiện ở một phía rồi gọi đó là cặp sao giáp. Khôi và Việt cũng phải ở đúng hai ô kề theo quy tắc an đang dùng, không chỉ hiện diện ở đâu đó trên lá số.
Mục an Kình Dương, Đà La đặt hai sao hai bên Lộc Tồn. Lộc Tồn tại Tý thì Kình/Đà ở Sửu/Hợi: Lộc Tồn tọa cung, Kình Đà giáp; không phải hai sao Lộc giáp cung.
Hóa Lộc và Lộc Tồn không phải cùng một nhãn. Với tên “song Lộc”, “giáp Lộc” hay cách gọi khác, hỏi tài liệu đang định nghĩa sao nào, vị trí nào và điều kiện kèm theo. Không tự đổi tên một cấu trúc vì chữ “Lộc” nghe có lợi.
Bảng an Khôi, Việt ghi Bính/Đinh ở Hợi/Dậu. Hai ô kề Tuất, không kề Tý. Cần xác định Mệnh thực; chưa thể dự báo chức vụ hay người nâng đỡ.
Nhật Nguyệt, Không Kiếp hay Hỏa Linh cũng cần kiểm từng vị trí thật trước khi gọi giáp. Việc tài liệu có nêu một cách cục tại Sửu/Mùi không có nghĩa chỉ cần Mệnh tại Sửu/Mùi là đã đủ sao. Không dùng một bảng “tám cách cục” làm nhãn gán tự động mà bỏ bản cung, tên sao và nguồn quy tắc.

Bản cung và lớp sao lưu cần được giữ riêng khi luận
Giữ danh sách sao ở bản cung, hai cung giáp và lớp thời gian của chúng riêng nhau. Nếu một sao là sao lưu của năm đang xem, ghi rõ năm; không ghép với sao gốc rồi gọi một bộ giáp gốc suốt đời. Nhãn miếu, vượng, đắc, hãm hay dấu Tuần/Triệt thuộc quy tắc của bản đang dùng, không phải phép đo lực truyền giữa các ô.
“Vô chính diệu” là không có chính tinh tọa tại cung, không đồng nghĩa ô trống hoàn toàn hoặc người đó thiếu năng lực. Có một cặp ở hai cung kề không tự biến bản cung thành “cực tốt”; có sao được xếp sát tinh không đủ để nói sẽ bệnh, mất tiền, bị phản bội hoặc gặp cháy nhà.
Nếu muốn đối chiếu Tuần/Triệt, giữ vị trí dấu và cách giải của tài liệu; không mặc định chúng là bức tường vật lý chặn năng lượng từ sao. Khi chuyển sang đại vận hay một năm cụ thể, ghi cung đang xét và lớp hạn mới thay vì chỉ thêm chữ “kích hoạt” vào một nhận định cũ.
Cách luận cát, hung là diễn giải trong hệ Tử Vi. Nó không thay kết quả khám, dữ liệu giao dịch, chứng cứ về hành vi một người hoặc điều kiện thực tế của nhà ở. Bài này giúp kiểm thuật ngữ và cấu trúc lá số, không dùng cấu trúc để quyết định đầu tư, chẩn đoán hoặc đánh giá đạo đức.

Ghi nhận giáp cung từ lá số đang dùng ra sao?
Ghi cung đang xét cùng địa chi, hai địa chi kề và tên sao thực đọc ở từng bên; nếu có sao lưu, thêm năm và lớp dữ liệu. Đặt nhận xét vị trí trước lời diễn giải, để một người khác có thể đối chiếu lại cùng bản.
Một dòng ghi do website dựng có thể là: “Đang xét Mệnh tại Tý; hai ô kề Hợi/Sửu; chưa đọc rõ sao ở Sửu; chưa kết luận cặp giáp.” Giữ phần chưa rõ như vậy hữu ích hơn tự điền một sao theo tên cách cục muốn thấy. Nếu hai bản khác nhau, kiểm dữ liệu sinh, lịch/tháng nhuận, giờ, năm xem và quy tắc an sao trước.
Chưa nhận rõ địa chi, tên cung và lớp sao thì đọc bài cấu trúc lá số Tử Vi trước. Chưa có lá số thì vào công cụ lập lá số Tử Vi, kiểm dữ liệu nhập của mình rồi quay lại tìm hai cung kề. Ảnh trang trí không có các dữ kiện ấy để thay cho kết quả lập lá số.