Để đọc cấu trúc lá số Tử Vi, tách ô thông tin ở giữa, 12 vị trí địa chi quanh khung, tên cung chức năng và các sao ghi trong từng ô. Sau đó mới xem quan hệ giữa cung và lớp hạn của năm đang xét. Tên cung Mệnh, dòng bản mệnh và Chủ Mệnh không phải cùng một nhãn; chữ Thân cũng có hai nghĩa cần phân biệt.
Nếu chưa có lá số, mở công cụ lập lá số Tử Vi để nhập dữ liệu của mình. Khung dưới chỉ giúp nhận diện vị trí, chưa an cung chức năng hoặc sao, không phải kết quả của một người.
Ô giữa và 12 ô quanh lá số chứa những gì?
Ô giữa thường ghi dữ liệu sinh và các thông số lập lá số; 12 ô ngoài có vị trí địa chi cố định, còn tên cung chức năng và sao được an theo dữ liệu. Đừng lấy một tên như “Mệnh” hoặc “Quan Lộc” trên lá số người khác để coi đó là tên cố định của cùng vị trí trên lá số mình.
| Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân địa chi |
| Thìn | Ô thông tin Dữ liệu sinh Bản mệnh · Cục Chưa có dữ liệu cá nhân | Dậu | |
| Mão | Tuất | ||
| Dần | Sửu | Tý | Hợi |
“Tý” khác “Tỵ”; “Thân” ở hàng trên của khung là địa chi, chưa phải dấu chỉ cung an Thân. Cách trình bày có thể là vuông, chữ nhật hoặc vòng tròn: xác định bằng nhãn địa chi thay vì đoán từ hướng trên/dưới của hình đã xoay.
Bản chép Tử Vi đẩu số tân biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang, Phần I, mục Định cung phân biệt khung địa chi không đổi với khoảng giữa ghi dữ liệu sinh. Đây là cách ghi của tài liệu Tử Vi, không chứng minh khả năng dự đoán từ lá số.
Thiên bàn thường được dùng để gọi phần giữa; địa bàn chỉ khung bên ngoài. “Nhân bàn” có cách dùng theo tài liệu hoặc trường phái, không nên mặc định là một ô thứ 14 hay một tầng sinh học. Trong bài này, hãy nhận diện trực tiếp dữ liệu, địa chi, cung và sao, thay vì buộc mọi bản in có ba lớp được gọi giống nhau.

Cung Mệnh, bản mệnh, Chủ Mệnh và Thân khác nhau thế nào?
Cung Mệnh là một cung chức năng trên khung; bản mệnh thường là dòng ngũ hành/nạp âm; Chủ Mệnh là một tên sao theo quy ước. Dấu chỉ an Thân nằm trong một cung chức năng, khác địa chi Thân. Cục là thông số lập lá số, không phải điểm đánh giá năng lực hoặc mức sống.
- Cung Mệnh
- Tìm ô được ghi “Mệnh”, rồi đọc địa chi của ô đó. Câu “Mệnh tại Tý” nói vị trí của cung Mệnh, không nói người đó thuộc nạp âm Thủy.
- Bản mệnh/nạp âm
- Tìm dòng thông tin gắn với Can Chi năm sinh; có thể ghi tên nạp âm hoặc hành. Đừng thay dòng này bằng hành của ô cung Mệnh, của một sao hoặc của Cục.
- Cục
- Các tên thường gặp là Thủy nhị cục, Mộc tam cục, Kim tứ cục, Thổ ngũ cục, Hỏa lục cục. Con số đi với tên Cục thuộc quy tắc an sao/hạn, không phải tuổi thọ, tỷ lệ thành công hoặc tiền nên đầu tư.
- Chủ Mệnh và Chủ Thân
- Đây là hai thông số tên sao được ghi theo quy ước lập lá số. Chúng không thay thế danh sách chính tinh thực nằm ở cung Mệnh hoặc cung đang an Thân; cùng có chữ “Mệnh” không có nghĩa cùng một trường dữ liệu.
- Cung an Thân
- Tìm chữ/dấu “Thân” được đặt cùng tên một cung chức năng. Trong cách an trình bày ở mục An Thân của Tử Vi đẩu số tân biên, nó ở Mệnh, Phúc Đức, Quan Lộc, Thiên Di, Tài Bạch hoặc Phu Thê; không thêm một ô cung độc lập.
- Địa chi Thân
- Là một trong 12 vị trí của khung. Một ô thuộc địa chi Thân có thể mang tên cung chức năng khác; không suy rằng mọi người đều “Thân cư” tại vị trí đó.
Ví dụ đọc nhãn do website tự dựng: “Mệnh tại Tý, Thân cư Quan Lộc” cần tìm hai tên cung trên cùng lá số. Nó không yêu cầu hai ô ấy đều có chữ địa chi Thân, cũng chưa nói sao nào ở hai ô. Không gán mốc tuổi 32 như lúc nhãn Thân bắt đầu có hiệu lực; cách diễn giải Mệnh–Thân thuộc từng phương pháp, còn vị trí an phải kiểm từ dữ liệu sinh.

Trong một ô cung, đọc nhãn nào trước tên sao?
Đọc địa chi để biết vị trí, tên cung để biết mục đang xét, rồi mới tách chính tinh, các sao khác và ký hiệu đi kèm. Nhìn chữ in lớn, màu đỏ hoặc nhiều sao trong một ô không đủ để kết luận cung ấy tốt, xấu hoặc quyết định bao nhiêu phần trăm cuộc đời.
- Địa chi và cung chức năng: một ô có thể vừa ghi “Tý” vừa ghi “Mệnh”. Chúng là hai nhãn khác nhau. Có thể gặp tên viết tắt như Quan, Tài, Di, Phối; đọc chú giải của bản đang dùng.
- Chính tinh: phân biệt tên sao như Tử Vi, Thiên Cơ, Vũ Khúc, Thiên Phủ… với tên cung. Hai nhóm an sao Tử Vi tinh hệ/Thiên Phủ tinh hệ không đồng nghĩa cách chia mọi sao thành Bắc Đẩu/Nam Đẩu. “Vô chính diệu” là không có chính tinh tọa tại cung, không phải ô không có bất kỳ sao nào.
- Ký hiệu độ sáng: trên phần đọc cung của GMTV, M/V/Đ/H/B được giải thích là Miếu/Vượng/Đắc/Hãm/Bình. Bản khác có thể dùng D cho Đ hoặc ghi đầy đủ; đối chiếu chú giải, không đọc chữ M thành “Mệnh”. Đây là phân loại của hệ Tử Vi, không phép đo độ sáng thiên văn hoặc điểm chứng minh tài năng.
- Tứ Hóa và các sao khác: nhận riêng Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Hóa Kỵ cùng sao/cung được ghi. Không coi thấy Hóa Kỵ là một chẩn đoán bệnh hoặc lý do mua lễ hóa giải.
- Tuần/Triệt: đọc dấu ghi vắt qua các ô và nhãn cụ thể thay vì gộp với một sao chỉ tọa trong một ô. Màu hoặc vị trí chữ trên từng bản có thể khác; kiểm dữ liệu và chú giải trước khi so sánh.
Tài liệu Nhật Minh Tun, tập I (2012), phần thuật ngữ trang 15 tách cách ghi sao, cung chức năng và địa chi; cách viết hoa trong tài liệu ấy là quy ước của tác giả. Bài này giữ sự phân biệt nhãn, không yêu cầu mọi phần mềm dùng đúng kiểu viết hoa đó. Tên sao cát/sát trong truyền thống không thay dữ liệu đời sống để đánh giá con người.
Muốn tìm tên các cung, xem bài về 12 cung trong lá số. Mười hai tên chức năng thường dùng gồm Mệnh, Phụ Mẫu, Phúc Đức, Điền Trạch, Quan Lộc, Nô Bộc, Thiên Di, Tật Ách, Tài Bạch, Tử Tức, Phu Thê, Huynh Đệ; đó là danh mục chủ đề của cách đọc, không bằng chứng đã biết sức khỏe, con cái hoặc ý nghĩ của một người.
Tam phương tứ chính chọn bốn ô nào?
Lấy cung đang xét, hai cung cách nó bốn và tám vị trí trên vòng 12 địa chi, cùng cung đối diện cách sáu vị trí. Đây là bốn ô cần nhận diện trong cách xét này; không phải bốn sao trong một ô và không có cơ sở gán chúng “80% sức mạnh”.
- Xác định ô gốc bằng địa chi: ví dụ giả định cung Mệnh đang tại Tý.
- Tìm hai ô tam hợp: đi bốn vị trí từ Tý đến Thìn, tám vị trí đến Thân. Nếu đếm ô Tý là số 1, ô Thìn là số 5; cách diễn đạt “cách bốn” và “đếm đến ô thứ năm” không mâu thuẫn.
- Tìm ô đối diện: đi sáu vị trí đến Ngọ. Bộ ô cần đọc là Tý, Thìn, Thân, Ngọ; sau đó kiểm tên cung và sao thực được ghi trong từng ô của lá số đang dùng.
Trong cách sắp tên cung thường dùng, khi Mệnh tại Tý, Quan Lộc ở Thìn, Tài Bạch ở Thân và Thiên Di ở Ngọ. Ví dụ chỉ giải thích vị trí; chưa có dữ liệu sao hoặc năm xem để trở thành hồ sơ cá nhân.
Nhị hợp là một quan hệ khác, ví dụ Tý–Sửu; giáp cung là hai ô cạnh ô đang xét, ở ví dụ Tý là Sửu và Hợi. Không đưa các ô ấy vào bộ bốn rồi gọi tất cả là tam phương tứ chính. Cũng không dùng góc trên ảnh trang trí để thay nhãn địa chi; Tử Vi ở đây đang xét vị trí cung, không phải kinh độ và orb của chiêm tinh phương Tây.

Số tuổi, năm xem và sao lưu có phải đều là dữ liệu gốc?
Không. Phân biệt thông tin sinh dùng lập lá số gốc với năm đang xem, các khoảng đại vận và lớp sao lưu. Khi đổi năm xem, một lớp theo năm có thể thay; đừng coi mỗi thay đổi trong bản in là giờ sinh hoặc cấu trúc gốc đã bị sửa.
- Dữ liệu sinh và lịch
- Kiểm ngày tháng năm, giờ, cách ghi âm/dương lịch và tháng nhuận nếu có. Ngày bạn nhớ là âm lịch không được nhập như ngày dương. Nếu giờ chỉ biết khoảng, giữ ghi chú chưa chắc chắn; không lựa một giờ vì thích kết quả của nó.
- Năm xem và tuổi hiển thị
- Xác định đang xem năm nào và bản dùng cách tính tuổi nào. Tuổi mụ và tuổi theo sinh nhật không được tự đổi qua lại khi đọc một nhãn hạn.
- Đại vận
- Một khoảng mười năm là nhãn giai đoạn trong phương pháp đang dùng. Chẳng hạn “2–11” bao gồm mười số tuổi; đó không phải dự báo mỗi năm đều giống nhau, cũng không phải số sao hay điểm chất lượng của cung.
- Sao lưu
- Tiền tố “L.” hoặc màu riêng thường dùng để phân biệt lớp lưu, nhưng đọc chú giải của phần mềm trước. Nếu bản không nói rõ, hỏi năm/lớp nào đã được bật; không cộng mọi sao gốc và sao lưu thành một danh sách mà bỏ thời điểm.
Khi hai lá số cùng dữ liệu sinh khác nhau, so lịch/tháng nhuận, giờ, cách tính tuổi, năm xem và quy tắc an sao được chọn trước. Không mặc định bản có nhiều chữ hoặc nhiều sao hơn chính xác hơn. Việc xác định “nhãn này từ lớp nào” giúp kiểm lại bản in; nó không chứng minh lời dự báo, tỷ lệ thành công hoặc bệnh tật.
Trên trang lập lá số, kiểm dữ liệu nhập và năm xem của mình trước khi đọc. Có thể bắt đầu bằng tên một cung bạn muốn nhận diện trên bản của mình. Nếu cần biết phạm vi của lời luận và cách trao đổi dữ liệu riêng, xem hướng dẫn thỏa thuận và giới hạn khi đọc bản đồ; các phép tính Tử Vi vẫn cần được phân biệt với phương pháp chiêm tinh khác.
Nội dung: Giải Mã Tử Vi. Cập nhật . Khung và ví dụ nhằm nhận diện nhãn trong Tử Vi; không phải hồ sơ sinh thực hoặc kết luận về đời sống một người.