Cung Tật Ách trong Tử Vi: tìm đúng ô, đọc nhị hợp và phân biệt dấu Thân

Cung Tật Ách nằm giữa Thiên Di và Tài Bạch, tam hợp với Điền Trạch–Huynh Đệ và đối diện Phụ Mẫu. Đây là tên cung thường được dùng để bàn về bệnh tật và tai ách trong Tử Vi truyền thống. Bài này hướng dẫn đọc vị trí, quan hệ cung và nhãn sao; các quan hệ đó không phải kết quả chẩn đoán sức khỏe.

Điều cần làm trước khi đọc một lời luận là tìm đúng ô Tật và biết sao nào nằm trong ô ấy. Một ảnh lá số có nhiều biểu tượng hoặc một câu “có sao cứu giải” không tự cho biết tình trạng sức khỏe của người sở hữu lá số.

Tìm ô Tật Ách từ Mệnh bằng cách nào?

Đi năm bước nghịch từ Mệnh: Huynh Đệ → Phu Thê → Tử Tức → Tài Bạch → Tật Ách. Nếu tính cả ô Mệnh là ô đầu tiên, Tật là ô thứ sáu trong chuỗi nghịch này. Trên bản có tên cung sẵn, tìm nhãn “Tật”, “Tật Ách” hoặc “疾厄” và kiểm tra hai ô kề là Thiên Di và Tài Bạch.

  1. Giả sử Mệnh ở Tý: bước thứ nhất đến Huynh Đệ ở Hợi.
  2. Bước thứ hai đến Phu Thê ở Tuất.
  3. Bước thứ ba đến Tử Tức ở Dậu.
  4. Bước thứ tư đến Tài Bạch ở Thân.
  5. Bước thứ năm đến Tật Ách ở Mùi.

Cách đếm này theo thứ tự an 12 cung ở Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, quyển II, mục an 12 cung. Địa chi là nhãn vị trí cố định; tên cung được đặt theo Mệnh, nên Tật không cố định ở Mùi trên mọi lá số. Chỉ ví dụ Mệnh tại Tý ở đây mới cho kết quả ấy.

Hai sổ mở để trống có dấu trang khác màu cạnh ba thẻ giấy, bút chì và sách đóngẢnh chưa tải được; nội dung hướng dẫn vẫn có trong văn bản.
Ghi tên cung, địa chi và tên sao riêng để dễ đối chiếu trên bản lá số đang xem.

Tật Ách liên hệ với cung nào, có luôn nhị hợp Mệnh không?

Tam hợp của Tật là Điền Trạch–Huynh Đệ; đối cung là Phụ Mẫu. Nhị hợp phụ thuộc địa chi nơi Tật đóng, nên không luôn là Mệnh. Hãy phân biệt tên quan hệ trước khi lấy sao từ một ô khác vào lời đọc.

Tam hợp
Đọc Tật cùng Điền Trạch và Huynh Đệ. Với Mệnh tại Tý: Tật ở Mùi, Điền ở Mão, Huynh ở Hợi, cùng nhóm Hợi–Mão–Mùi.
Đối cung
Phụ Mẫu nằm cách Tật sáu vị trí. Trong ví dụ trên, Phụ ở Sửu đối diện Tật ở Mùi; quan hệ hình học này không đo gen hoặc bệnh di truyền.
Giáp cung
Hai ô sát Tật là Thiên Di và Tài Bạch. Ở ví dụ Mệnh tại Tý, chúng lần lượt ở Ngọ và Thân; không gọi hai ô này là tam hợp.
Ba vị trí Mệnh cho ba kết quả nhị hợp của Tật
Mệnh ởTật ởNhị hợp của Tật
TýMùiNgọ: Thiên Di
SửuThânTỵ: Quan Lộc
MãoTuấtMão: Mệnh

Ví dụ thứ ba có Tật nhị hợp Mệnh; hai ví dụ đầu không có. Các cặp nhị hợp địa chi dùng để tra là Tý–Sửu, Dần–Hợi, Mão–Tuất, Thìn–Dậu, Tỵ–Thân, Ngọ–Mùi. Để đối chiếu cách đọc nhị hợp ở một cung khác, xem bài đọc vị trí Tài Bạch.

Tật Ách vô chính diệu thì ghi sao ở Phụ Mẫu thế nào?

Giữ sao tọa Tật và sao tại Phụ Mẫu thành hai nhóm riêng. “Vô chính diệu” nói ô Tật không có một trong 14 chính tinh; không có nghĩa ô ấy trống mọi phụ tinh. Khi tham khảo chính tinh ở đối cung, sao đó vẫn tọa Phụ Mẫu và chiếu Tật, không đổi thành sao tọa Tật.

Trong một ví dụ ghi chép giả định, ô Tật được đánh dấu vô chính diệu và có một số phụ tinh; ô Phụ Mẫu có các chính tinh được in trên bản đang xem. Người đọc chép nhóm thứ nhất dưới “Tại Tật”, nhóm thứ hai dưới “Tại Phụ Mẫu, đối chiếu Tật”. Nếu chưa đọc rõ tên sao ở ảnh nhỏ, ghi chưa rõ thay vì đoán theo màu hoặc vị trí chữ.

Sau đó tách sao nguyên thủy trên bản gốc khỏi lớp lưu của năm đang xem. Việc một nhãn xuất hiện khi bật lớp năm không có nghĩa nhãn đó thuộc lá số gốc. “Tật vô chính diệu” cũng không xác nhận người ấy ít bệnh, nhiều bệnh hay miễn nhiễm với một bệnh nào.

Người phụ nữ áo xanh cầm bút chì trên thẻ giấy trống, tay còn lại giữ giấy cạnh sổ mởẢnh chưa tải được; nội dung hướng dẫn vẫn có trong văn bản.
Giữ ghi chép sao tọa Tật và sao tại đối cung thành hai phần; không chuyển sao giữa các ô.

Dấu Thân có thể nằm trong cung Tật Ách không?

Theo phép an Mệnh–Thân từ tháng và giờ đang dùng ở bài này, Thân chỉ cư Mệnh, Phúc Đức, Quan Lộc, Thiên Di, Tài Bạch hoặc Phu Thê; không cư Tật Ách. Chữ “Thân” là một dấu an trên lá số, không đồng nghĩa với tên cung bàn về thân thể.

Lý do nằm ở hai chiều đếm: từ cùng một vị trí tháng sinh, an Mệnh đếm giờ nghịch, an Thân đếm giờ thuận. Khoảng cách từ Mệnh đến Thân vì thế là số bước chẵn trong vòng 12 cung; Tật nằm ở bước thuận thứ bảy, không thuộc sáu vị trí ấy. Quy tắc này giải thích vị trí nhãn, không giải thích bệnh.

Nếu thấy chữ “Thân” sát ô Tật, hãy xem đường viền ô và phần ghi chú của bản lá số trước khi chép “Thân cư Tật”. Có thể đang đọc chữ ở ô Tài hoặc Di cạnh bên, hoặc đang nhầm dấu an Thân với địa chi Thân. Cách phân biệt hai nghĩa chữ Thân được giải thích thêm ở bài Mệnh và Thân.

“Cứu giải”, “bệnh” và “tai ách” trong lời luận nên được hiểu ở mức nào?

Đó là ngôn ngữ diễn giải của Tử Vi truyền thống, không phải xác nhận một bác sĩ, thuốc hay thủ thuật sẽ có hiệu quả. Câu có “Hóa Khoa” hoặc “Thiên Lương cứu giải” không đủ để kết luận người đọc sẽ gặp thầy thuốc giỏi, khỏi bệnh hay không cần khám.

Hãy giữ nguyên tên sao khi hỏi về cách luận, nhưng không chuyển lời luận thành danh sách bệnh, lịch xét nghiệm hoặc quyết định làm thủ thuật. Nếu câu hỏi thực tế là cần trao đổi gì về sức khỏe, bài chuẩn bị thông tin và câu hỏi cho buổi khám giúp tách điều đã biết khỏi điều suy đoán, rồi ghi thuốc, hồ sơ và thắc mắc thực tế.

Tờ giấy trắng trên bảng kẹp cạnh sách đóng, bút chì và kính lúpẢnh chưa tải được; nội dung hướng dẫn vẫn có trong văn bản.
Tách câu hỏi về thuật ngữ Tử Vi khỏi câu hỏi về sức khỏe thực tế.

Cơ sở đối chiếu: Toàn Thư quyển II dùng cho thứ tự cung và cách an Mệnh–Thân; tài liệu Tử Vi lưu hành nội bộ của Nhật Minh Tun, mục 2.3 và 11.2.10, dùng cho tên quan hệ và phạm vi đọc cung. Những lời suy đoán bệnh hoặc tai ách trong tài liệu truyền thống không được dùng làm bằng chứng y tế. Giải Mã Tử Vi chịu trách nhiệm biên tập phần giải thích này.

Cập nhật: