Chọn ngày sinh dương lịch
Dùng biểu mẫu tương tác để chọn ngày, tháng, năm sinh dương lịch và giới tính. Công cụ tra tên cung bằng khoảng ngày cố định; không tính vị trí Mặt Trời theo giờ và nơi sinh.

Ngày sinh nào thuộc cung nào trong công cụ này?
Bảng dưới đây là 12 khoảng ngày dương lịch mà công cụ dùng để chọn tên cung. Mỗi ngày hợp lệ thuộc một khoảng; cả ngày đầu lẫn ngày cuối đều được tính. Với Ma Kết, khoảng kéo từ cuối tháng 12 sang tháng 1 của năm sau.
| Cung | Ngày sinh |
|---|---|
| Bạch Dương | 21/03–19/04 |
| Kim Ngưu | 20/04–20/05 |
| Song Tử | 21/05–21/06 |
| Cự Giải | 22/06–22/07 |
| Sư Tử | 23/07–22/08 |
| Xử Nữ | 23/08–22/09 |
| Thiên Bình | 23/09–23/10 |
| Thiên Yết | 24/10–22/11 |
| Nhân Mã | 23/11–21/12 |
| Ma Kết | 22/12–19/01 |
| Bảo Bình | 20/01–18/02 |
| Song Ngư | 19/02–20/03 |
Ví dụ, 19/1 trả về Ma Kết, còn 20/1 trả về Bảo Bình. Người sinh 22/12 cũng nhận Ma Kết. Năm sinh và giới tính vẫn có trong biểu mẫu để gửi đủ dữ liệu, nhưng không quyết định tên cung khi ngày và tháng không đổi. Bạn có thể đối chiếu trực tiếp bảng trước khi bấm tra.
Sinh sát ranh giới: nên đọc kết quả nào?
Đọc tên cung và khoảng ngày mà lần tra trả về. Trong công cụ này, 21/6 thuộc Song Tử và 22/6 thuộc Cự Giải; không có kết quả ghép hai cung cho cùng ngày.

Ba cặp ngày dễ gây nhầm khi đối chiếu các bảng khác:
- 21/6 và 22/6: lần lượt là Song Tử và Cự Giải.
- 23/10 và 24/10: lần lượt là Thiên Bình và Thiên Yết.
- 22/11 và 23/11: lần lượt là Thiên Yết và Nhân Mã.
Nếu bảng bạn đang xem ghi mốc khác, hãy xác định hai nơi có cùng cách tra hay không. Phép tra tại đây dùng khoảng cố định, không nhận giờ hoặc nơi sinh và không tính tọa độ Mặt Trời cho thời điểm sinh. Vì vậy, kết quả không giải quyết một yêu cầu cần độ chính xác đến giờ, và cũng không cho phép suy ra người ở ranh giới có hai kiểu tính cách cùng lúc.
Nhóm đầu, giữa, cuối được chia theo ngày nào?
Theo số ngày trong tháng: ngày 1–10 là nhóm đầu, ngày 11–20 là nhóm giữa, ngày 21–31 là nhóm cuối. Nhóm này không đếm từ ngày bắt đầu của từng cung.
Ví dụ 21/3: bảng chọn Bạch Dương, nhưng nhóm ngày là 21–31, tức nhóm cuối tháng. Ngày 1/4 vẫn là Bạch Dương và thuộc nhóm đầu tháng. Nếu hiểu “nhóm đầu” là những ngày đầu tiên của Bạch Dương thì hai kết quả trên sẽ bị đọc sai.
Trường nhóm ngày của phản hồi trước đây dùng tên “Decan” kèm lời mô tả năng lượng. Ở đây chúng tôi ghi rõ nhóm ngày trong tháng để bạn thấy đúng quy tắc đang dùng. Phép chia này không xác nhận 36 phân đoạn góc và không phải bằng chứng rằng hai người cùng cung, khác nhóm ngày sẽ có tính cách khác nhau.

Nguyên tố, tính chất và hành tinh đi kèm cũng lấy từ bảng cung. Có thể dùng các nhãn để đọc tiếp tính chất cung, nhưng hãy đối chiếu mọi nhận xét về bản thân với trải nghiệm thực tế. Một tên cung không đo khả năng học tập, nghề nghiệp, quan hệ hay sức khỏe.
Chỉ nhớ ngày sinh âm lịch thì nhập thế nào?
Đổi sang ngày dương lịch trước, rồi nhập đúng ngày, tháng, năm đã đổi. Biểu mẫu này không tự nhận biết một ngày đang là âm lịch.
- Mở công cụ đổi ngày âm dương, chọn chiều đổi từ âm sang dương và đúng năm sinh. Nếu sinh tháng nhuận, cần kiểm tra lựa chọn tháng nhuận thay vì coi như tháng thường.
- Ghi lại đủ ngày, tháng và năm dương lịch nhận được. Không lấy riêng số ngày âm rồi ghép với tháng dương.
- Quay lại biểu mẫu, chọn ngày dương vừa đổi và tra cung. Kiểm tra lại ngày sinh hiển thị trong kết quả để chắc rằng đã gửi đúng.
Nếu gia đình nhớ hai ngày khác nhau, nên xác minh ngày sinh từ hồ sơ hoặc người thân trước. Công cụ không quyết định thay bạn đâu là ngày sinh thật. Với ngày không tồn tại như 31/2 hoặc ngày chưa đến, biểu mẫu yêu cầu sửa thay vì tạo kết quả.
Tra xong tên cung là đủ để chọn mục tiếp theo trong mật ngữ 12 chòm sao. Nếu cần bản đồ sao theo thời điểm sinh, bạn cần một cách tính có giờ, nơi sinh và phương pháp được nêu rõ; bảng ngày này chưa cung cấp việc đó.