Kỷ Tỵ nữ mạng: vì sao 1929 là Đoài, 1989 là Tốn?

Nữ thuộc năm âm Kỷ Tỵ 1929 được cung phi Đoài, số 7; nữ Kỷ Tỵ 1989 được Tốn, số 4 theo phép tra được dùng ở đây. Vì thế không dùng chung hàng Tốn của năm 1989 cho mọi nữ tuổi Kỷ Tỵ. Cả hai năm vẫn mang nạp âm Đại Lâm Mộc; tên nạp âm giống nhau chưa làm cung phi giống nhau.

Hai năm đang so đều trước 2000. Theo cách tính Kua do WOFS trình bày, lấy hai chữ số cuối của năm đã xác định, cộng rồi rút gọn thành một chữ số; với nữ trước 2000, cộng thêm 5 và rút gọn tiếp nếu cần.

Nữ 1929 — cung Đoài, số 7:
2 + 9 = 11 → 1 + 1 = 2; sau đó 2 + 5 = 7.

Nữ 1989 — cung Tốn, số 4:
8 + 9 = 17 → 1 + 7 = 8; sau đó 8 + 5 = 13 → 1 + 3 = 4.

Phần số–cung trong Bát Trạch Minh Kính, mục nam nữ mệnh trạch ghi số 7 ứng Đoài, số 4 ứng Tốn. Trong phân nhóm của nguồn WOFS, 7 thuộc Tây tứ, 4 thuộc Đông tứ. Đó là các nhãn của phép tra truyền thống, không phải kết quả đo tính cách hoặc mức may mắn.

Người phụ nữ áo xanh đứng quay lưng bên bàn la bàn và giấy cuộn, trước rừng tre, cây lớn rễ nổi và hình rắn mờ giữa tán lá
Cảnh rừng cây với hình rắn gợi tuổi Kỷ Tỵ và Đại Lâm Mộc.

60 năm lặp tên Kỷ Tỵ, vì sao chưa đủ lặp số cung?

Vì 60 không chia hết cho 9. Trong hai trường hợp cùng trước 2000 này, phần đuôi năm tăng từ 29 lên 89, chênh 60; phép rút gọn số không quay lại kết quả cũ chỉ vì Can Chi đã quay lại.

60 = 6 × 9 + 6. Phần dư là 6. Từ kết quả 7 của năm 1929, có thể kiểm tiếp 7 + 6 = 13 → 1 + 3 = 4, đúng số của năm 1989.

Đây là phép kiểm số học của chính hai dòng tính đã nêu. Tên năm Kỷ Tỵ lặp sau 60 năm, nhưng phương pháp cung phi còn dùng con số năm và nhánh nam/nữ. Không nên nhìn tên Can Chi giống nhau rồi chép nguyên cung phi từ một thế hệ sang thế hệ khác.

Khi mở rộng sang năm khác, cần dùng đúng công thức của khoảng năm và giữ quy ước của nguồn. Hai ví dụ trước 2000 này không được chuyển nguyên hằng số cộng 5 sang mọi năm sau 2000. Bài không sửa năm sinh để làm hai phép tra khớp nhau, cũng không đưa năm sinh tương lai vào bộ chọn ngày hiện tại.

Người phụ nữ áo xanh đặt hai tay lên các hạt xanh vàng trên bàn, cạnh tượng rắn ngọc, bonsai, sổ trắng và chén trước cửa nhìn ra tre
Các hạt xanh, vàng và sổ trắng trong góc bàn nhìn ra tre.

Đoài và Tốn khác nhau có làm đổi Đại Lâm Mộc không?

Không. Đại Lâm Mộc là nạp âm của cặp Mậu Thìn–Kỷ Tỵ; Đoài và Tốn ở đây là kết quả cung phi theo năm và nhánh Nữ. Đổi kết quả cung phi giữa 1929 và 1989 không đổi Kỷ Tỵ thành một tên nạp âm khác.

Bài nạp âm ở Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư quyển hai ghi Mậu Thìn–Kỷ Tỵ Đại Lâm Mộc. Khi ghi chú, có thể giữ hai dòng riêng: “nữ 1929: Đại Lâm Mộc; cung phi Đoài” và “nữ 1989: Đại Lâm Mộc; cung phi Tốn”. Tách tên trường giúp nhận ra kết quả khác nhau ở cung phi, thay vì gọi cả hai chỉ bằng chữ “mệnh”.

Nếu đang đọc một bảng hướng, trước hết cần biết hàng ấy thuộc đúng năm và nhánh Nữ nào. Nhãn Đông tứ của năm 1989 không xác nhận nữ 1929 cũng thuộc nhóm đó. Bảng tra cung mệnh nam nữ trình bày thêm cách phân biệt cung phi với nạp âm; một nhãn nhóm vẫn chưa thay việc xem hiện trạng một căn nhà.

Rừng cây trong ảnh giúp nhận ra chủ đề Đại Lâm Mộc. La bàn và các hạt trên bàn không chứa phép tính số 7 hay số 4, cũng không xác nhận căn nhà của người đọc thuộc một hướng nào. Các phép cộng cần kiểm đã nằm trong văn bản ở trên.

Bàn gỗ có ấm chén, đĩa tròn và bonsai bên dòng nước nhỏ, cạnh cây rễ nổi, tre, đèn đá và hiên nhà
Bàn trà và bonsai bên lối nước nhỏ trong sân nhiều cây.

Hai ngày sinh giả định nữ 01/07/1929 và 01/07/1989 cùng mở nhóm Kỷ Tỵ trong bộ chọn bài theo ngày sinh theo phép đổi UTC+7 hiện tại. Đường dẫn chung chỉ xác nhận nhóm tuổi, không làm hai cung phi thành một. Hướng dẫn đọc Tử Vi trọn đời giúp phân biệt bài nhóm với phần tra cứu cá nhân cần dữ liệu riêng.

Giải Mã Tử Vi · Nội dung cập nhật ngày . Hai ngày sinh là ví dụ giả định. Bài kiểm phương pháp tính và nhãn cung theo các nguồn được dẫn; chưa khảo sát nhà, hiệu đính mọi hệ Bát Trạch hoặc chứng minh tác động dự báo của các nhãn ấy.

Cập nhật: