Tam phương tứ chính là gì? Bảng tra 12 bản cung và cách đổi cung gốc
Tam phương tứ chính là phạm vi bốn cung khi chọn một cung làm gốc: bản cung, hai cung tam hợp và cung đối diện. Ví dụ chọn Mệnh thì đọc Mệnh – Tài Bạch – Quan Lộc – Thiên Di. Chọn Quan Lộc làm gốc thì cung đối chuyển thành Phu Thê; không giữ nguyên Thiên Di cho mọi câu hỏi. Bảng dưới giúp tra đủ mười hai bản cung mà chưa cần suy tính cách hoặc vận hạn.
Chọn một bản cung thì ba cung còn lại là những cung nào?
Hai cung tam hợp nằm cách bản cung bốn và tám bước; cung đối nằm cách sáu bước trên vòng mười hai địa chi. Đặt bản cung tại bước không. Tính cả bản cung, phạm vi đang tra có bốn vị trí khác nhau, không phải bản cung cộng thêm bốn cung nữa.
| Bản cung | Hai cung tam hợp | Cung đối |
|---|---|---|
| Mệnh | Tài Bạch – Quan Lộc | Thiên Di |
| Huynh Đệ | Tật Ách – Điền Trạch | Nô Bộc |
| Phu Thê | Thiên Di – Phúc Đức | Quan Lộc |
| Tử Tức | Nô Bộc – Phụ Mẫu | Điền Trạch |
| Tài Bạch | Quan Lộc – Mệnh | Phúc Đức |
| Tật Ách | Điền Trạch – Huynh Đệ | Phụ Mẫu |
| Thiên Di | Phúc Đức – Phu Thê | Mệnh |
| Nô Bộc | Phụ Mẫu – Tử Tức | Huynh Đệ |
| Quan Lộc | Mệnh – Tài Bạch | Phu Thê |
| Điền Trạch | Huynh Đệ – Tật Ách | Tử Tức |
| Phúc Đức | Phu Thê – Thiên Di | Tài Bạch |
| Phụ Mẫu | Tử Tức – Nô Bộc | Tật Ách |
Bảng được suy từ thứ tự mười hai cung chức năng trong Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, quyển hai: bắt đầu từ Mệnh, tiếp Huynh Đệ, Phu Thê, Tử Tức, Tài Bạch, Tật Ách, Thiên Di, Nô Bộc, Quan Lộc, Điền Trạch, Phúc Đức, Phụ Mẫu theo chiều nghịch địa chi. Đây là bảng đối chiếu vị trí theo thứ tự ấy; nó không chép một bảng điểm tốt xấu hoặc xác nhận lời dự đoán của sách.
Tên cung là chức năng, địa chi là tọa độ. Mệnh không luôn ở Tý, Quan Lộc không luôn ở Ngọ. Vì vậy có thể dùng bảng tên cung cho những khung Mệnh khác nhau, rồi tra nhãn địa chi trên lá số đang đọc. Không lấy chi năm sinh thay cho tọa độ cung Mệnh.
Với giấy hình chữ nhật, bốn ô có thể nằm ở cạnh hoặc góc khác nhau. Đừng đo đường chéo của ảnh để chọn cung: nhãn địa chi và tên cung mới là dữ kiện cần đối chiếu. Các số bốn, sáu, tám ở đây là bước trên vòng cung; không đo lực của sao hoặc khoảng cách thiên văn.

Vì sao cùng Mệnh – Tài – Quan nhưng cung thứ tư lại đổi?
Vì mỗi lần chọn bản cung, cung đối được xác định từ bản cung ấy. Mệnh, Tài Bạch và Quan Lộc có chung nhóm tam hợp, nhưng lần lượt đối với Thiên Di, Phúc Đức và Phu Thê. Bộ bốn không phải một nhóm đóng cố định cho cả ba bản cung.
- Gốc là Mệnh
- Bản cung Mệnh; hai cung tam hợp Tài Bạch, Quan Lộc; cung đối Thiên Di.
- Gốc là Tài Bạch
- Bản cung Tài Bạch; hai cung tam hợp Quan Lộc, Mệnh; cung đối Phúc Đức.
- Gốc là Quan Lộc
- Bản cung Quan Lộc; hai cung tam hợp Mệnh, Tài Bạch; cung đối Phu Thê.
Khi đổi câu hỏi từ Mệnh sang Quan Lộc, hãy ghi lại gốc đang chọn trước khi liệt kê sao. Nếu chỉ ghi “Mệnh – Tài – Quan – Di” ở mọi đoạn, bạn có thể bỏ qua cung đối của Quan Lộc hoặc gán một lời luận về Mệnh sang chủ đề khác mà không đổi điều kiện.
Giả định Mệnh tại Thìn: theo thứ tự cung đã nêu, Quan Lộc ở Thân, Tài Bạch ở Tý, Thiên Di ở Tuất và Phu Thê ở Dần. Đây là khung cung để học, không nói người giả định sinh năm Thìn.
Chọn Mệnh Thìn làm gốc: hai cung tam hợp là Quan Lộc Thân và Tài Bạch Tý; cung đối là Thiên Di Tuất. Bốn địa chi cần tìm là Thìn – Thân – Tý – Tuất.
Chọn Quan Lộc Thân làm gốc: hai cung tam hợp vẫn thuộc nhóm Thân – Tý – Thìn, nhưng cung đối giờ là Phu Thê Dần. Bốn địa chi cần tìm là Thân – Tý – Thìn – Dần.
Hai lần tra dùng cùng một khung mười hai cung. Không cần đổi vị trí sao, an thêm sao hoặc đổi ngày sinh để chuyển góc đọc. Chỉ thay bản cung và nhận diện lại cung đối của nó. Cách này cũng giúp kiểm một hình minh họa: hình có đủ bốn ô nhưng không chỉ rõ gốc thì vẫn chưa đủ để biết người viết đang đọc cung nào.
Tứ chính có nghĩa phải lấy Tý – Ngọ – Mão – Dậu trong mọi trường hợp không?
Không thể dùng cố định bốn địa chi ấy thay cho phạm vi bốn cung quanh bản cung đang xét. Ngay ví dụ Mệnh Thìn ở trên, bộ cần tra là Thìn – Thân – Tý – Tuất. Nếu chọn bốn ô Tý – Ngọ – Mão – Dậu chỉ vì thấy chữ “tứ chính”, bạn sẽ bỏ cả bản cung Thìn và hai vị trí cần đọc.
Khi gặp tài liệu dùng một thuật ngữ theo nghĩa riêng, đọc định nghĩa ngay trong tài liệu và giữ nhãn của hệ đang dùng. Bài này đang chỉ phạm vi bản cung, tam hợp, đối cung; không dùng một từ giống nhau để trộn hai cách chọn ô. Cũng không lấy bộ bốn cung này để kết luận tuổi nào hợp làm ăn.
Tra đúng bốn cung đã đủ để luận một lá số chưa?
Chưa. Bảng mới xác định phạm vi vị trí; muốn hiểu một câu luận, còn cần sao tại từng cung, quan hệ giữa chúng, lớp lá số và điều kiện mà nguồn yêu cầu. Một sao tọa tại Quan Lộc hội Mệnh vẫn ở Quan Lộc; không chuyển nó thành sao tọa Mệnh chỉ vì hai cung được đọc chung.
Hãy ghi ngắn theo dạng “gốc Mệnh Thìn; sao tại Mệnh…; tam hợp Quan Thân, Tài Tý…; đối Di Tuất…”. Giữ ô thiếu dữ kiện để trống. Với sao lưu hoặc hạn, thêm nhãn thời gian; không ghép sao lưu vào nhóm sao gốc rồi gọi đó là cấu trúc lúc sinh.
Hai cung giáp nằm ngay cạnh bản cung, không thuộc bộ bốn vừa tra. Chẳng hạn Mệnh Thìn có hai vị trí kề là Mão và Tỵ, khác Thân, Tý và Tuất trong ví dụ. Phần tam hợp, xung chiếu và giáp cung giúp phân biệt ba quan hệ khi một lời luận yêu cầu đồng cung, hội chiếu hoặc giáp hai bên.
Nếu bản cung không có chính tinh tọa thủ, điều đó chưa có nghĩa cung không có sao. Một cách đọc có thể xem chính tinh ở đối cung theo quy ước của nguồn; cần ghi rõ đang xét đối cung. Không dùng tỷ lệ “mượn 70%” hay điểm 45–25–15 để biến quy ước ấy thành phép đo đã được xác thực.
Với ảnh chụp lá số nhỏ hoặc bị cắt, tìm nhãn bản cung và cung đối trước; nếu một ô bị khuất, xin bản đủ rõ thay vì đoán tên sao từ nét chữ. Với giờ sinh chưa rõ, vị trí Mệnh và các cung chức năng cũng cần kiểm lại theo đầu vào. Bảng tra vẫn đúng về quan hệ, nhưng không xác nhận những tọa độ cá nhân chưa được xác định.
Các tên Tài Bạch, Quan Lộc, Phu Thê giúp đặt chủ đề trong cách đọc truyền thống. Bốn cung không phải chứng cứ để khẳng định thu nhập, nghề nên chọn, tình trạng sức khỏe hoặc kết quả hôn nhân. Khi đang cân nhắc một việc thực tế, dùng dữ kiện của việc đó để quyết định; bài tập vị trí chỉ giúp hiểu lá số và câu chữ của tài liệu.
Giải Mã Tử Vi đối chiếu thứ tự cung trong bản chép Toàn Thư và kiểm riêng mười hai hàng của bảng cùng ví dụ đổi gốc Mệnh Thìn sang Quan Thân. Không có ngày giờ sinh của người thật hoặc bộ sao cá nhân trong ví dụ. Dữ kiện để tra nằm trong phần chữ; ảnh là cảnh học và ghi chép.
Cập nhật:






