Song Hao trong Tử Vi: an Đại Hao, Tiểu Hao và đọc đúng trục cung
Song Hao là tên gọi chung của Đại Hao và Tiểu Hao. Bài này xét hai sao trong vòng Bác Sĩ: Tiểu Hao ở vị trí thứ tư, Đại Hao ở vị trí thứ mười khi tính Bác Sĩ là vị trí đầu. Chúng cách nhau sáu bước trên vòng mười hai địa chi nên ở hai cung đối diện. Từ “hao” trong lời luận truyền thống không cho biết một khoản tiền sẽ mất bao nhiêu, người nào đáng tin hay việc đầu tư nào có lời.
Đại Hao và Tiểu Hao khác nhau ở đâu?
Trong cách gọi của vòng Bác Sĩ, Đại Hao được diễn giải bằng hình tượng hao tổn lớn, Tiểu Hao bằng hao tổn nhỏ. Đó là sự phân biệt trong ngôn ngữ Tử Vi; “đại” và “tiểu” không phải mức tiền đã được đo, cũng không cho phép gán một khoản chi thực tế cho một sao.
- Tiểu Hao
- Vị trí thứ tư của vòng Bác Sĩ, cách điểm đầu ba bước theo chiều an đã chọn.
- Đại Hao
- Vị trí thứ mười, cách điểm đầu chín bước theo cùng chiều. Khoảng cách giữa hai sao là sáu bước.
- Song Hao
- Tên của cặp sao; không phải một sao thứ ba và không có nghĩa hai sao cùng tọa thủ một cung trong cùng vòng.
Cách gọi và thứ tự trên có thể đối chiếu ở mục Tiểu Hao và Đại Hao của Ưng Khiêm. Bài chỉ dùng phần xác định hai sao và vòng an; những lời luận về tài sản hay tính cách trong tài liệu thực hành không phải bằng chứng đánh giá một người.
Nếu một lá số hiển thị tên Hao từ một hệ an theo địa chi năm hoặc từ lớp lưu, cần kiểm chú giải của nơi lập lá số. Không lấy một tên giống nhau để ghép thành cùng bộ sao. Khi ghi nhận, thêm vòng an và lớp đang xem bên cạnh tên; việc ấy giúp tránh nhầm giữa sao gốc với sao của năm xem.

Song Hao của vòng Bác Sĩ được an từ đâu?
Bắt đầu tại cung Lộc Tồn, đặt Bác Sĩ cùng cung đó rồi đi theo thứ tự mười hai sao. Theo quy tắc dùng ở đây, dương nam và âm nữ đi thuận; âm nam và dương nữ đi nghịch. Thuận là theo chuỗi Tý → Sửu → Dần → Mão…, không suy từ chiều mũi tên của một ảnh chưa có chú giải.
Âm dương ở đây xét thiên can năm theo cách phân của hệ Tử Vi: Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm là dương; Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý là âm. Giữ năm âm và cách lập lá số của nguồn đang dùng. Một người sinh gần mốc chuyển năm chưa thể chọn can chỉ bằng năm dương lịch ghi trên một tờ thông tin.
- Bác Sĩ
- Lực Sĩ
- Thanh Long
- Tiểu Hao
- Tướng Quân
- Tấu Thư
- Phi Liêm
- Hỷ Thần
- Bệnh Phù
- Đại Hao
- Phục Binh
- Quan Phủ
Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, quyển hai có bài quyết về vòng bắt đầu từ Lộc Tồn và chiều thuận nghịch này. Bản chép dùng chữ Thiên Hao ở vị trí thứ mười; danh sách tiếng Việt của bài dùng Đại Hao theo vòng Bác Sĩ nêu ở hai mục tra cứu trên. Giữ rõ nguồn và cách gọi khi đối chiếu bản khác, không tự thay một sao chỉ vì tên gần giống.
Ví dụ nam thuộc năm Giáp: từ Lộc Tồn ở Dần đến hai sao Hao
Với can Giáp, Lộc Tồn ở Dần; nam theo chiều thuận có Tiểu Hao ở Tỵ và Đại Hao ở Hợi. Đây là ví dụ kiểm vòng an, chưa có tháng, ngày, giờ để gọi tên các cung chức năng hoặc luận cả lá số.
Đến Tiểu Hao: Dần (Bác Sĩ) → Mão (Lực Sĩ) → Thìn (Thanh Long) → Tỵ (Tiểu Hao).
Đến Đại Hao: từ Dần đi đủ chín bước theo cùng chiều đến Hợi, vị trí thứ mười.
Đừng đếm Dần là một bước đã đi: Dần là điểm đầu, vị trí số một. Sau ba lần chuyển sang địa chi tiếp theo mới đến vị trí thứ tư. Cách phân “vị trí” với “số bước” cũng áp dụng khi đếm chín bước đến Đại Hao.
Giữ can Giáp nhưng đổi chiều an thì hai vị trí ra sao?
Trong ví dụ nữ thuộc năm Giáp, chiều nghịch từ Dần đặt Tiểu Hao ở Hợi và Đại Hao ở Tỵ. Hai sao đổi đầu của cùng trục Tỵ–Hợi; chiều an không làm hai sao nhập thành một cung.
| Trường hợp | Tiểu Hao | Đại Hao |
|---|---|---|
| Giáp, nam: thuận | Tỵ | Hợi |
| Giáp, nữ: nghịch | Hợi | Tỵ |
Kiểm can năm, cung Lộc Tồn, chiều đi và thứ tự vòng là đủ để kiểm hai nhãn Hao của ví dụ. Tháng, ngày, giờ còn cần khi dựng các phần khác của lá số. Không coi bảng hai hàng này là hai lá số cá nhân đã được lập đầy đủ.
“Song Hao tại một cung” là tọa thủ hay một sao chiếu về?
Trong cùng vòng Bác Sĩ, chỉ một sao Hao tọa thủ cung đang xét; sao còn lại ở cung đối diện và xung chiếu. Vì vậy câu “Song Hao cư Tài” cần nói rõ sao nào tọa Tài, sao nào từ đối cung chiếu về. Không mô tả cả hai đồng cung rồi dùng lời luận của cấu trúc khác.
Ví dụ giả định Mệnh đặt tại Tý: theo thứ tự mười hai cung chức năng đi nghịch, Tài Bạch ở Thân, Quan Lộc ở Thìn và Thiên Di ở Ngọ. Nếu Tiểu Hao ở Tài tại Thân, Đại Hao đối diện ở Dần; với cách đặt Mệnh này, Dần là Phúc Đức. Ví dụ chỉ gán nhãn cung để thấy quan hệ đối diện, không xác nhận một ngày sinh cụ thể tạo được toàn bộ cấu trúc ấy.
- Tọa thủ
- Sao nằm ngay ở ô cung đang đọc. Giữ cả tên địa chi lẫn tên cung chức năng của ô.
- Xung chiếu
- Sao nằm ở cung đối diện. Hai đầu trục Tý–Ngọ, Sửu–Mùi, Dần–Thân, Mão–Dậu, Thìn–Tuất, Tỵ–Hợi cách nhau sáu bước.
- Tam hợp
- Hai cung còn lại của nhóm ba địa chi. Không gọi sao ở cung đối diện là đồng cung hoặc tam hợp chỉ vì cùng tham gia phần luận.
Khi gặp Hóa Lộc, Hóa Kỵ, Không Kiếp hoặc một chính tinh, ghi đúng vị trí và quan hệ trước khi đọc tên bộ. Một danh sách sao rải ở nhiều cung không tự trở thành một cách cục đồng cung. Có thể xem thêm cát tinh và hung tinh để phân biệt nhóm sao với kết luận về người.
Lộc Tồn cùng Bác Sĩ là điểm đầu vòng; hai Hao cách điểm đầu ba và chín bước nên không cùng cung với Lộc Tồn của chính vòng đó. Nếu thấy cách nói “Hao ngộ Lộc Tồn”, cần biết tác giả đang nói đến hội chiếu, một lớp khác hay một cách an khác. Không tự dùng “ngộ” làm đồng nghĩa với tọa chung.

Đắc địa ở Dần, Thân, Mão, Dậu có nghĩa chắc chắn giàu không?
Không. Nhãn đắc địa trong một hệ luận là cách phân loại của hệ ấy, không phải tỷ lệ thành công kinh doanh. Kể cả khi bảng đang dùng xếp hai Hao thuận hơn ở các vị trí này, vẫn không thể suy ra lợi nhuận, khả năng chịu rủi ro hoặc một nghề phải chọn chỉ từ vị trí sao.
Cần giữ tên tài liệu và phạm vi của bảng đắc hãm khi tra cứu. Một câu phú được dẫn lại mà thiếu bản gốc, điều kiện hội hợp hoặc lớp đang xem chưa đủ để làm quy tắc chung. Bài không dùng câu “Dần Thân vi cự phú” như lời xác nhận một người sẽ thành đại thương gia.
Trong ngôn ngữ biểu tượng, “hao” có thể gợi việc tiêu dùng, phân phối, thay đổi hoặc mất mát. Nhưng một khoản chi cần thiết, một khoản chi vượt dự kiến và một khoản mất vì thông tin sai là ba tình huống khác nhau. Tên sao không thay việc tìm nguyên nhân của từng khoản hoặc kiểm người đã nhận tiền.
Có mục đích và điều kiện sử dụng cụ thể. Chỉ thấy tiền ra chưa đủ gọi đó là mất mát hoặc quyết định tốt.
Cần đối chiếu việc thực tế và tài liệu liên quan. Không quy nguyên nhân cho một sao trước khi biết khoản nào đã phát sinh.
Tên cách cục không kiểm được tổ chức, điều khoản hay khả năng sinh lời. Không dùng lá số để thay việc đánh giá thông tin của lời mời.
Đại vận, lưu niên và lá số gốc cũng phải ghi riêng. Có sao Hao trong lớp đang xem không là thời điểm mất tiền đã được định lượng; một sao lưu đến một ô không tự xóa hoặc thay vị trí sao gốc. Khi so hai bản, kiểm năm xem trước khi nói chúng mâu thuẫn.

Dùng lời luận về Song Hao để tự xem lại việc chi tiêu thế nào?
Có thể lấy hình tượng hao tán làm câu hỏi, nhưng câu trả lời phải dựa trên khoản chi có thật. Ghi mục đích, thời điểm và điều đã xảy ra; giữ những dữ kiện đó riêng với phần diễn giải lá số. Không mua một tài sản hoặc chi tiền trước chỉ để “ứng” một sao.
Ghi nhận thực tế: Trong ví dụ giả định, một gia đình mua bàn học theo kích thước đã đo, nhưng giao hàng phát sinh một khoản chưa được báo. Cần hỏi lại khoản đó là gì và đối chiếu thỏa thuận.
Ghi nhận lời luận: “Hao” gợi câu hỏi về chi phí. Nó không chứng minh người bán gian dối, cũng không chứng minh gia đình sẽ thường xuyên mất tiền.
Không có quy tắc từ vòng an sao rằng giữ tiền mặt sẽ làm tiền “tự bốc hơi”, hoặc chuyển sang vàng, nhà đất sẽ tránh hao. Việc từ thiện cũng không là giao dịch bảo đảm đổi lấy việc không gặp mất mát. Nếu chọn một việc tốt, giữ mục đích và khả năng của mình, không để một lời luận ép mức chi.
Song Hao có dùng để xác định bệnh, độ tin cậy của bạn bè hoặc nghĩa vụ của con cái không?
Không có cơ sở từ quy tắc an hai sao để xác định những điều đó. Không suy bệnh dạ dày, ngoại hình, sự phản bội hoặc khả năng nuôi dưỡng từ một cung có Hao. Không dùng cách cục làm căn cứ ép nghề, ép chi tiêu, đánh giá trẻ em hoặc quy trách nhiệm cho người thân.
Nếu cần đọc một lá số, giữ đầy đủ dữ liệu lập số và các lớp thời gian, rồi xác định phạm vi so sánh các cung. Nếu cần xử lý một khoản phát sinh, quay về yêu cầu, thỏa thuận và diễn biến của việc ấy. Hai việc có thể cùng được ghi chép, nhưng không là cùng loại bằng chứng.
Giải Mã Tử Vi kiểm thứ tự vòng Bác Sĩ và các vị trí giả định theo quy tắc nêu trong bài. Quyển hai Toàn Thư được dùng để đối chiếu điểm đầu và chiều an; các mục tra cứu Ưng Khiêm để xác định cách gọi Đại Hao–Tiểu Hao trong danh sách tiếng Việt. Nội dung không đưa ra một dự báo lợi nhuận, bệnh hoặc kết quả gia đình từ tên sao.
Cập nhật:






