Mệnh Chủ và Thân Chủ: cách tra và phân biệt với cung Mệnh
Mệnh Chủ và Thân Chủ là hai tên sao được chọn theo quy tắc lập lá số, khác chính tinh tọa cung Mệnh và khác cung đang an Thân. Theo cách tra trong bài, Mệnh Chủ lấy địa chi cung Mệnh, Thân Chủ lấy địa chi năm sinh. Có phần mềm cho chọn Mệnh Chủ theo năm sinh; vì vậy cần kiểm quy ước trước khi kết luận hai bản in sai nhau. Hai tên này không đo tài năng, đạo đức hoặc quyết định hậu vận.
Tìm tên Chủ ở đâu, và vì sao nó không thay tên cung?
Tìm dòng “Mệnh Chủ/Chủ Mệnh” và “Thân Chủ/Chủ Thân” trong phần thông tin hoặc chú giải của bản đang dùng; đọc cả nhãn lẫn tên sao bên cạnh. Sau đó tìm riêng ô Mệnh và dấu an Thân. Một dòng Chủ ghi Văn Khúc không tự nói Văn Khúc đang tọa trong ô Mệnh.
- Cung Mệnh
- Một cung chức năng có vị trí địa chi trên khung. “Mệnh tại Dậu” cung cấp chi Dậu để tra Mệnh Chủ theo cách trình bày dưới đây.
- Chính tinh tọa Mệnh
- Tên chính tinh thực ghi trong ô Mệnh. Nếu ô này vô chính diệu, đó là thông tin về sao tọa cung; không có nghĩa dòng Mệnh Chủ phải để trống.
- Cung an Thân / Thân cư
- Dấu Thân đặt cùng một cung chức năng, chẳng hạn Thiên Di. Đây là vị trí cần xác định trên khung, không phải tên sao Thân Chủ và cũng khác địa chi Thân.
- Mệnh Chủ và Thân Chủ
- Hai tên sao theo phép tra đã chọn. Ghi được tên Chủ chưa cung cấp vị trí, sao đi cùng hoặc lớp hạn trên lá số; phải đọc các thông tin ấy riêng.
Chữ “chủ” ở đây không phải phép đo một “năng lượng ngầm” điều khiển mọi cung. Đừng chuyển dòng thông số thành lời chứng nhận nghề nghiệp hợp mệnh hoặc một nhãn tính cách bẩm sinh. Ngay cả khi tên sao trùng một sao đang có trong ô Mệnh, hai dòng dữ liệu vẫn cần được nhận riêng trước khi luận.
Bài đọc cấu trúc lá số giúp nhận ô thông tin, địa chi, cung chức năng và lớp hạn. Nếu đang nhầm Thân Chủ với Thân cư, bài an cung Mệnh và cung Thân đi vào vị trí theo tháng và giờ; không dùng bảng tên Chủ dưới đây để thay phép an cung ấy.

Mệnh Chủ và Thân Chủ dùng hai đầu vào nào?
Với cách tra được chọn trong bài, lấy chi của cung Mệnh cho bảng Mệnh Chủ, và chi của năm sinh cho bảng Thân Chủ. Cả hai là địa chi nhưng không mặc nhiên cùng một chữ. Bảng đầu không đọc theo con giáp năm sinh khi cung Mệnh ở vị trí khác.
Mục “An Mệnh Chủ” trong bản chép Tử Vi đẩu số toàn thư, quyển II, tại Wikisource ghi tên sao theo vị trí cung Mệnh; ví dụ trong mục cũng nói an Mệnh tại Ngọ hoặc Tý. Bảng sau chuyển phần tra sang tiếng Việt. Đây là căn cứ quy tắc truyền thống, chưa là bằng chứng dự đoán đời sống.
| Chi cung Mệnh | Tên Chủ |
|---|---|
| Tý | Tham Lang |
| Sửu, Hợi | Cự Môn |
| Dần, Tuất | Lộc Tồn |
| Mão, Dậu | Văn Khúc |
| Thìn, Thân | Liêm Trinh |
| Tỵ, Mùi | Vũ Khúc |
| Ngọ | Phá Quân |
Mục “An Thân Chủ” của bản chép cùng sách tại Thức Điển Cổ Tịch dùng nhóm người theo chi năm. Bảng dưới chuyển các cặp sang tiếng Việt, giữ riêng vấn đề đọc Hỏa/Linh ở cặp Tý–Ngọ để không âm thầm chuẩn hóa bản chép thành một tên duy nhất.
| Chi năm sinh | Tên theo phần tra |
|---|---|
| Tý, Ngọ | Bản chép ghi Hỏa/Linh; kiểm chú giải của bản đang dùng |
| Sửu, Mùi | Thiên Tướng |
| Dần, Thân | Thiên Lương |
| Mão, Dậu | Thiên Đồng |
| Thìn, Tuất | Văn Xương |
| Tỵ, Hợi | Thiên Cơ |
Chưa biết giờ sinh thì có tra được Mệnh Chủ không?
Chưa có cung Mệnh đủ căn cứ thì chưa chốt được Mệnh Chủ theo bảng cung chi. Biết năm sinh không thay phần tháng, giờ cần để an Mệnh. Thân Chủ theo bảng năm chi có thể được tra khi năm đã xác định; kết quả ấy không khôi phục phần cung Mệnh còn thiếu.
Nếu ngày sinh sát ranh năm âm lịch, xác minh chi năm mà bản lập số đang sử dụng; không chỉ lấy chữ số năm dương. Nếu giờ chưa rõ, giữ các phương án dưới nhãn giả định và ghi nguồn, như hướng dẫn tìm lại giờ sinh. Không lựa giờ vì tên Chủ nghe hay hơn.
Vì sao hàng Tý–Ngọ không ghi ngay một tên Hỏa Tinh?
Vì bản tại Thức Điển ghi cụm “火鈴星”, có cả chữ Hỏa và Linh; dòng tại Wikisource chép “火玲星”. Hai bản chép không đủ để bài tự khẳng định mọi phần mềm chỉ phải hiện Hỏa Tinh. Khi bản của mình dùng một tên, hỏi quy ước cụ thể và giữ tên mà bản ấy thực ghi.
Đây là điểm cần đối chiếu văn bản, không phải phép chọn sao theo tính khí. Không gọi Linh Tinh là lỗi chỉ vì khác một bảng phổ thông, cũng không thêm hai sao vào mọi kết quả cá nhân khi chưa xác định cách lập. Bài chỉ dẫn phần đã đọc, không tuyên bố đã khảo dị mọi bản in cổ.
Ví dụ: Mệnh tại Dậu, năm Dần thì tra ra sao?
Với dữ liệu giả định đã cho là Mệnh tại Dậu và chi năm sinh Dần, cách cung chi cho Mệnh Chủ Văn Khúc, cách năm chi cho Thân Chủ Thiên Lương. Đây là bài tập tra nhãn, chưa là lá số cá nhân được an đủ ngày, tháng, giờ và sao.
- Đọc ô Mệnh: địa chi Dậu. Tìm hàng Mão–Dậu trong bảng Mệnh Chủ, ghi Văn Khúc.
- Đọc chi năm dùng lập số: Dần. Tìm hàng Dần–Thân trong bảng Thân Chủ, ghi Thiên Lương.
- Ghi cách tra cùng kết quả: “Mệnh Chủ theo cung chi; Thân Chủ theo năm chi”. Chưa biết chính tinh tọa Mệnh hoặc Thân cư cung nào thì giữ trạng thái chưa biết, không điền từ hai tên Chủ.
Nếu đổi riêng chế độ Mệnh Chủ sang dùng năm chi trong cùng ví dụ, đầu vào của bảng đầu thành Dần và tên sẽ là Lộc Tồn. Sự khác Văn Khúc/Lộc Tồn khi ấy đến từ quy ước đầu vào; chưa có căn cứ nói người đó đã đổi tính cách hoặc giờ sinh.
Nhật ký cập nhật của nhà cung cấp NCC, bản v4.50 tháng 01/2001, mục NCC-607 ghi hai lựa chọn Mệnh Chủ: dùng chi cung Mệnh hoặc dùng chi năm sinh. Nguồn chứng minh phần mềm ấy có lựa chọn này ở phiên bản được nêu, không xác nhận công cụ khác cũng dùng cùng mặc định; bài không gán hai chế độ đó cho giao diện GMTV.

Trong ghi chú có thể viết: “Bản A cho Văn Khúc nhưng chưa thấy quy ước; bản B cho Lộc Tồn và ghi dùng năm chi. Cung Mệnh của hai bản đều là Dậu, năm đều là Dần. Cần hỏi quy ước bản A trước khi kết luận.” Đây là lời ghi giả định, không là kiểm chứng một dịch vụ thật.
Không dùng kết quả Văn Khúc để bảo người này nhất định giỏi viết, hoặc Thiên Lương để khẳng định họ có đạo đức hơn người khác. Những cách diễn giải biểu tượng thuộc phương pháp luận, không trở thành phép đánh giá một người chỉ vì bảng tra đã được làm đúng.
Hai bản in khác tên Chủ thì kiểm gì trước khi luận?
Kiểm tên trường, địa chi đầu vào và quy ước tra trước; sau đó mới kiểm bản có dùng cùng dữ liệu sinh hay không. Nếu những phần này chưa rõ, ghi “chưa xác minh cách tra” thay vì chọn bản cho lời luận mình thích.
- Tên trường: đang so hai dòng Chủ, hay một dòng Chủ với danh sách sao trong ô Mệnh? Sao nằm ở ô khác không tự làm tên Chủ sai.
- Đầu vào: chép chi cung Mệnh và chi năm sinh riêng. Cung Mệnh thay theo phương án tháng/giờ có thể làm tên tra theo cung chi khác; đừng coi tên Chủ khác là bằng chứng tự xác nhận giờ sinh.
- Quy ước: bản giải thích dùng cung chi hay năm chi cho Mệnh Chủ? Với Tý/Ngọ, nó xử lý dòng Hỏa/Linh thế nào? Nếu không có chú giải, cần hỏi người lập hoặc nhà cung cấp, không tự thêm lời của website.
- Dữ liệu lập: so lịch, tháng nhuận, ngày/giờ nhập và năm sau chuyển lịch; giữ dữ liệu gốc khi thử lại. Một ngày sát Tết không tự được đổi năm chỉ để hai bản hiện giống nhau.
Công cụ lập lá số Tử Vi là nơi thực hành nhập dữ liệu và đọc nhãn hiện trên kết quả. Bảng trong bài là phép tra theo nguồn được chỉ rõ, không lời xác nhận thuật toán của mọi kết quả từ công cụ. Nếu cần hỗ trợ kiểm, nêu các nhãn và quy ước còn thiếu; không phải đăng công khai toàn bộ ngày sinh và hồ sơ riêng để hỏi tên một trường.

Tên Chủ thuộc một lớp thông tin tham khảo. Không gán mốc “sau 30 tuổi Thân Chủ tiếp quản”, tỷ lệ 70–80% tính cách, năng khiếu chắc chắn hoặc kết luận giàu nghèo từ hai tên này. Một quy tắc tra có thể kiểm lại không biến lời luận đi kèm thành dự báo đã được chứng minh.
Giải Mã Tử Vi · Rà soát 11/10/2026. Hai bảng đối chiếu các mục An Mệnh Chủ/An Thân Chủ của bản chép đã liên kết; thông tin lựa chọn phần mềm dẫn nhật ký nhà cung cấp ở phiên bản được nêu. Ví dụ và lời ghi do website biên soạn, chưa là hồ sơ sinh thật. Bài giải cách nhận nhãn và đối chiếu quy tắc, không chứng nhận hiệu lực dự đoán.
Cập nhật:






