Can Chi là gì? Bảng tra năm sinh và cách kiểm ranh đổi năm

Can Chi là cách gọi năm, tháng, ngày hoặc giờ bằng một tên Can ghép với một tên Chi. Riêng tên năm dùng 10 Thiên Can và 12 Địa Chi chạy đồng thời, tạo chu kỳ 60 năm. Muốn tra năm sinh, cần chọn đúng năm theo quy ước đổi năm trước rồi mới tính. Một ngày sinh đầu tháng 2 có thể cho hai nhãn năm khác nhau nếu một nơi dùng Tết, nơi khác dùng Lập Xuân.

Hai bánh răng gỗ cạnh sổ trắng và bút chì, logo Giải Mã Tử Vi ở góc ảnh
Hai nhịp quay gợi cách Can và Chi cùng tiến; số bước và tên năm được tra trong hai bảng bên dưới.

Tra Thiên Can và Địa Chi bằng hai phép tính riêng

Trong hai bảng dưới, Y là số năm dùng để gọi năm đang xét, viết bằng số dương lịch, chẳng hạn 1984 hoặc 2026. Nếu tra tuổi theo năm âm lịch và sinh trước Tết, Y có thể là năm dương lịch liền trước. Đây không phải số thứ tự của năm trong chu kỳ 60 năm. Phần ranh đổi năm có một trường hợp để đối chiếu.

Lấy chữ số cuối của Y để tìm Can

Can của năm: tra chữ số hàng đơn vị
Chữ số cuốiThiên Can
0Canh
1Tân
2Nhâm
3Quý
4Giáp
5Ất
6Bính
7Đinh
8Mậu
9Kỷ

Lấy số dư khi chia Y cho 12 để tìm Chi

Số dư luôn nằm từ 0 đến 11. Nếu chia hết, tra dòng 0; không đổi số dư 0 thành 12.

Chi của năm: tra số dư, không tra thương
Y chia 12 dưĐịa Chi
0Thân
1Dậu
2Tuất
3Hợi
4Tý
5Sửu
6Dần
7Mão
8Thìn
9Tỵ
10Ngọ
11Mùi

Đọc tên Can trước, tên Chi sau: Giáp + Tý thành Giáp Tý. Hai bảng có độ dài khác nhau vì là hai dãy độc lập; một dòng của bảng Can không phải cặp cố định với một dòng của bảng Chi.

1984 là Giáp Tý; 2026 là Bính Ngọ

Với Y = 1984, chữ số cuối 4 cho Can Giáp. Phép chia 1984 = 12 × 165 + 4 cho Chi Tý. Kết quả là Giáp Tý. Đây là tên của năm đã chọn; một người sinh trong tháng 1/1984 vẫn cần kiểm tra ranh năm, thay vì lấy ngay nhãn này.

Với Y = 2026, chữ số cuối 6 cho Can Bính. Phép chia 2026 = 12 × 168 + 10 cho Chi Ngọ. Kết quả là Bính Ngọ.

Thử kiểm tính lặp: 1996 cách 1984 đúng 12 năm. Cả hai cùng Chi Tý, nhưng 1996 có Can Bính nên là Bính Tý. Đến 2044, cách 1984 đúng 60 năm, cả Can Giáp và Chi Tý mới cùng trở lại. Vì thế “cùng con giáp” chưa có nghĩa “cùng Can Chi”.

Người đàn ông lớn tuổi xem sách bên bàn gỗ có bút lông
Ghi từng phép chia giúp kiểm lại tên năm, nhất là khi đối chiếu với một bảng tra khác.

Hai dãy cùng tiến một bước nên chu kỳ là 60

Thứ tự Can bắt đầu từ Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý rồi quay lại Giáp. Thứ tự Chi bắt đầu từ Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi rồi quay lại Tý. Sau Giáp Tý là Ất Sửu, tiếp đến Bính Dần: mỗi bước đổi cả hai dãy.

Muốn trở về cả hai vị trí ban đầu, số bước phải chia hết cho cả 10 và 12. Số dương nhỏ nhất thỏa điều đó là 60. Cách ghép tuần tự này không đi qua toàn bộ 10 × 12 = 120 tổ hợp tùy ý. Trong cách phân âm dương truyền thống, các cặp xuất hiện cũng cùng tính âm hoặc cùng tính dương.

Hong Kong Observatory: Heavenly Stems and Earthly Branches công bố danh mục hai dãy và bảng 60 cặp. Ta có thể dùng bảng đó để đối chiếu tên năm; chu kỳ lịch không tự chứng minh rằng người cùng tuổi có cùng tính cách hay cùng kết quả cuộc đời.

Tĩnh vật gồm cây nhỏ, nước, lửa và các vật liệu đặt quanh một vòng tròn
Ngũ hành là một lớp biểu tượng khác; tên Can Chi và cách tính chu kỳ cần được đọc riêng.

Hồ sơ ngày 05/02/2024: phải hỏi đang đổi năm theo mốc nào

Tết âm lịch và tiết Lập Xuân là hai mốc khác nhau. Lịch đối chiếu năm 2024 của HKO ghi Lập Xuân vào ngày 04/02, còn ngày đầu tháng Giêng vào 10/02. Ngày 05/02 nằm giữa hai mốc này. Tệp lịch là lịch công bố cho Hong Kong; không dùng nó để thay mọi lịch Việt Nam ở mọi thời kỳ.

So sánh quy ước, không phải hai phép tính mâu thuẫn
Quy ước đang dùngY đem traTên năm
Đổi năm vào Tết: 05/02 còn trước 10/022023Quý Mão
Đổi năm tại Lập Xuân: 05/02 đã sau 04/022024Giáp Thìn

Vì vậy, đừng ghi “Tết hoặc Lập Xuân” rồi tiếp tục tính như thể hai lựa chọn luôn cho cùng kết quả. Khi đối chiếu hai phần mềm hoặc hai bản lá số, cần ghi rõ từng bên dùng mốc nào. Với thời điểm sát chính tiết Lập Xuân, còn phải kiểm tra giờ tiết và múi giờ của nguồn lịch; ví dụ trên chọn ngày kế tiếp nên không xử lý tình huống sát giờ chuyển tiết.

Một ví dụ về việc công khai quy ước là tài liệu cấu hình iztro: mục yearDivide phân biệt normal theo đầu tháng Giêng và exact theo Lập Xuân. Đây là mô tả của thư viện đó, không phải xác nhận mọi công cụ trên website đều dùng cùng cấu hình.

Lịch để bàn không ghi ngày cạnh phong bao đỏ, hoa mai và sổ trắng, có logo Giải Mã Tử Vi
Ngày sinh gần Tết cần ghi rõ mốc đổi năm đang dùng trước khi tra Can Chi.

Nếu mục tiêu là tra tuổi theo năm âm lịch tại Việt Nam, hãy kiểm ngày sinh thật bằng công cụ đổi ngày âm dương, ghi năm âm nhận được rồi mới đối chiếu tên năm. Nếu đang theo một phép lập số dùng tiết khí, lưu riêng quy ước và nguồn tiết khí để lần sau kiểm lại được.

Biết tên năm chưa có đủ dữ liệu để lập lá số

Can Chi năm không cho biết Can Chi của tháng, ngày và giờ bằng cách đổi tên năm đơn giản. Các lớp thời gian có quy tắc riêng. Trong Tử Vi, dữ liệu ngày, tháng, giờ và các quy ước an số vẫn cần được xác nhận; hãy xem dữ liệu sinh cần cho lá số Tử Vi trước khi so sánh kết quả cá nhân.

Can Chi cũng không đồng nghĩa với ngũ hành nạp âm hay Ngũ Hành Cục. Nạp âm là lớp quy thuộc của cặp Can Chi; Cục trong lá số còn liên quan đến vị trí cung Mệnh. Phần Mệnh Cục trong Tử Vi có ví dụ cùng năm sinh nhưng khác vị trí Mệnh để tránh gộp các khái niệm này.

Một kết quả tra cứu có thể lưu ngắn gọn: ngày sinh dương lịch, nơi/múi giờ cần dùng, quy ước đổi năm, Y đã chọn và tên Can Chi. Với dữ liệu chưa chắc, giữ nguyên ghi chú thay vì đoán. Tên năm là một nhãn trong hệ lịch và truyền thống thuật số; không dùng riêng nhãn ấy để đánh giá năng lực, chọn bạn đời hay quyết định đầu tư.

Cập nhật: